Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ B

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HS- ST

Ngày: 26/10/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chương.

Bà Lò Thị Ánh Ngọc.

- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2022/TLST- HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với Bị cáo:

Họ và tên: Vũ Trọng H; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1982, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Tổ 5, thị trấn Q C, huyện Q P, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Trọng L, sinh năm 1955; Con bà: Ngô Thị T (Đã chết); Bị cáo có vợ là Đỗ Thị T1, sinh năm 1985 (đã ly hôn năm 2011) và có 01 con sinh năm 2005. Tiền án: 02 tiền án, Ngày 27/11/2012 Bị cáo bị TAND huyện Q P, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 87/2012/HSST, ngày 27/11/2012, đến ngày 17/11/2013 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống; Ngày 23/9/2015 Bị cáo bị TAND huyện Q P, tỉnh Thái Bình xử phạt 08 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 86/2015/HSST ngày 23/9/2015, ngày 28/5/2021 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. Bị cáo chưa được xóa án tích đối với 02 bản án trên;Tiền sự: Không. Về nhân thân, ngày 15/8/2002 bị cáo bị TAND tỉnh Thái Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “ Cướp tài sản” theo Bản án số: 86/HSST ngày 15/8/2002, ngày 16/3/2004 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/7/2022, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 27/7/2022, Vũ Trọng H đi xe khách từ tỉnh Thái Bình lên tỉnh Điện Biên để đến nhà một người quen ở bản M, xã N H, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên. Khoảng 06 giờ ngày 28/7/2022 khi đến khu vực thuộc thành phố Điện Biên Phủ, Bị cáo bắt xe ôm đi đến Ủy Ban nhân dân xã N H, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên rồi đi bộ vào bản M, xã N H. Khi đến khu vực đường thuộc bản M, xã N H, Bị cáo gặp một người đàn ông (Không quen biết), người đàn ông hỏi: “Có mua Heroine không ?” Bị cáo trả lời: “Có”, bán cho 300.000 đồng. Sau đó Bị cáo lấy ra 300.000 đồng đưa cho người đàn ông, người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho Bị cáo 10 gói Heroine, trong đó 06 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng và 04 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đều là Heroine. Sau đó Bị cáo nhặt 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy ở ngoài đường và cho 10 gói Heroine vào trong lọ nhựa sau đó cất giấu vào túi quần bên phải Bị cáo đang mặc. Khi đi bộ được một đoạn thì bị tổ công tác Đội CSĐTTP về kinh tế và ma túy, công an huyện ĐB kiểm tra thu giữ tại túi quần bên phải của Bị cáo đang mặc 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 10 gói Heroine. Tổ công tác mời người chứng kiến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng, sau đó đưa Bị cáo cùng toàn bộ vật chứng về Công an huyện ĐB để điều tra làm rõ.

Ngày 28/7/2022 Công an huyện ĐB, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Vũ Trọng H như sau: Số cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,95 gam gửi toàn bộ giám định, Vật chứng hoàn lại sau giám định là: 0,89 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 1098/GĐ-PC09 ngày 05/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Vũ Trọng H gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 217/CT-VKSĐB ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB truy tố bị cáo Vũ Trọng H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Bị cáo: Từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,89 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ và 01 lọ nhựa không có giá trị sử dụng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trọng H khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào sáng ngày 28/7/2022 tại khu vực Bản M, xã N H, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,95 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo có 02 tiền án, chưa được xóa án tích, đã bị áp dụng tình tiết tái phạm, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

o) Tái phạm nguy hiểm".

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.

[2] Về tính chất của vụ án:

Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:

- Về nhân thân:

Bị cáo sinh ra tại thị trấn Q C, huyện Q P, tỉnh Thái Bình. Bị cáo được đi học đến lớp 11, sau đó ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Năm 2005 Bị cáo kết hôn với chị Đỗ Thị T1; sinh năm 1985 đến năm 2011 thì ly hôn và có 01 con chung sinh năm 2005. Bị cáo không có tiền sự nhưng có nhân thân rất xấu (Ngày 15/8/2002 Bị cáo bị TAND tỉnh Thái Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số: 86/HSST ngày 15/8/2002, ngày 16/3/2004 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, đối với bản án này Bị cáo đã được xoá án tích).

Ngày 27/11/2012 Bị cáo bị TAND huyện Q P, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 87/2012/HSST, ngày 27/11/2012, đến ngày 17/11/2013 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống; Ngày 23/9/2015 Bị cáo bị TAND huyện Q P, tỉnh Thái Bình xử phạt 08 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 86/2015/HSST ngày 23/9/2015, ngày 28/5/2021 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. Bị cáo chưa được xóa án tích đối với 02 bản án trên, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngày 28/7/2022 Bị cáo bị Công an huyện ĐB bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án gồm:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,89 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ và 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy, không có giá trị sử dụng.

[6] Các vấn đề khác:

Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông (Bị cáo không biết tên đầy đủ, tuổi, địa chỉ ở đâu) Cơ quan điều tra công an huyện ĐB và Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

[9] Về kháng cáo:

Bị cáo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng:

Điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố:

Bị cáo Vũ Trọng H, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Bị cáo: 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/7/2022).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy: 0,89 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định và 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy không có giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐB và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐB, tỉnh Điện Biên).

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND H. Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHĐB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS HĐB;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNV C.an HĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Tố Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2022/HS- ST ngày 26/10/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 13/2022/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/10/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trọng H, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt Bị cáo: 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/7/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger