|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 13/2021/HS-ST Ngày: 09/7/2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Việt Tím
- Bà Phạm Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2021/HSST-QĐ ngày 25 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoài T (Tuấn) - sinh năm 1986. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: ấp Kinh 10A, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 01/12. Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956. Vợ: Phạm Hồng T, sinh năm 1984. Con: Nguyễn Phạm Hoài T, sinh năm 2010.
Tiền án: Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản theo Bản án số 244/2003/HS-ST ngày 12/12/2003, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/2008, bị cáo chưa chấp hành xong số tiền bồi thường trách nhiệm dân sự trong bản án nên chưa được xóa án tích. Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/3/2021 cho đến nay (Bị cáo có mặt).
* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1970 (có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: ấp Kinh 10A, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17/12/2020, do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Hoài T sử dụng xe mô tô kiểu dáng Wave Trung Quốc, màu đen, số máy VTTAVJL1P52FMHA06108 (xe của bị cáo), không có biển số, không có số khung, khi đi ngang qua nhà bà Nguyễn Thị Bích L thấy cửa rào đóng và không thấy có ai ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T trèo lên hàng rào cao 1,5m chồm người qua và dùng hai tay nhổ cây mai của bà L đang trồng trong chậu có đặc điểm: 01 (một) cây mai vàng cao 93cm, có hoành thân nơi lớn nhất là 39cm, nguồn gốc cây mai là bà L mua của T khoảng 01 năm trước với giá 500.000 đồng. Sau khi lấy trộm xong, T mang để lên xe rồi chạy theo tuyến Quốc lộ 80 hướng về hướng xã Thạnh Trị, đi đến đoạn gần cầu Kinh 7, T gặp Huỳnh Thanh T (T Trâu Điên), sinh năm 1975, ngụ ấp Đ, xã T, huyện T biết Nguyễn Hoài T muốn bán cây mai nên Huỳnh Thanh T hỏi mua. Bị cáo T đồng ý bán cây mai cho anh T với giá 500.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau khi mua mai, anh T gửi cây mai cho Trần Thanh M, sinh năm 1983, ngụ ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang để trồng và chăm sóc. Đến ngày 18/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T mời Nguyễn Hoài T về trụ sở làm việc, T thừa nhận hành vi phạm tội của mình và khai nhận địa điểm bán cây mai để Cơ quan điều tra đã thu hồi được tang vật tại nhà Trần Thanh M và tạm giữ chiếc xe mô tô Nguyễn Hoài T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Sau khi khởi tố bị can, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập bị can để làm việc nhưng bị can không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu và làm gì, gia đình cũng không liên lạc được. Do đó, ngày 08/3/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Lệnh bắt bị can để tạm giam số 04/L-CQĐT ngày 08/3/2021, bị can bị bắt ngày 19/3/2021.
* Kết luận định giá số 06/2021/KL-HĐĐGTS ngày 17/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận giá trị tại thời điểm xảy ra vụ án ngày 17/12/2020: 01 (một) cây mai vàng cao 93cm, có hoành thân nơi lớn nhất là 39cm, có giá trị tương ứng trên thị trường là 2.500.000 đồng/cây. Tổng giá trị tài sản cần định giá là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số 10/CT-VKSTH ngày 12/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Hoài T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17/12/2020 bị cáo Nguyễn Hoài T sử dụng xe mô tô của mình kiểu dáng Wave Trung Quốc, màu đen, không có biển số, không có số khung, chạy đến nhà bà Nguyễn Thị Bích L sau đó trèo lên hàng rào trộm cắp 01 (một) cây mai vàng cao 93cm, có hoành thân nơi lớn nhất là 39cm trồng trong chậu để trước sân nhà bà L để bán cho người khác với giá 500.000 đồng để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tài sản mà bị cáo Nguyễn Hoài T trộm cắp trị giá là 2.500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoài T (Tuấn) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/3/2021.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave Trung Quốc, màu đen, không có biển số, không có số khung, số máy VTTAVJL1P52FMHA06108, xe của bị cáo T là chủ sở hữu.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hoài T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chiến |
Bản án số 13/2021/HS-ST ngày 09/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 13/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hoài T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài T 09 (chín) tháng tù.
