|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 13/2021/HNGĐ-PT Ngày: 31/3/2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh
- Bà Trần Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2021/TLPT-HNGĐ ngày 01/3/2021 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 02/2021/HNGĐ-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Y bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXPT- HNGĐ, ngày 08/3/2021 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Lệ T, sinh năm 1998 (vắng mặt).
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Địa chỉ: Tổ 9, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1991 (có mặt).
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Nơi làm việc hiện nay: Công ty trách nhiệm hữu hạn Dương Anh L.
- Trụ sở: KP 2, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Lệ T trình bày: Chị và anh D có được tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình chồng tại xã Đ, huyện Y. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 10 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh D ham chơi, không tu chí làm ăn, không quan tâm, chăm lo cho gia đình, chị khuyên giải nhiều lần nhưng anh D không thay đổi còn nhiều lần đánh đập chị; mặt khác anh D tính tình nóng nảy, hay gia trưởng, áp đặt và ghen tuông vô cớ nên vợ chồng chị thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 01/2020, đến khoảng tháng 3 năm 2020 do hai bên gia đình hòa giải vợ chồng có về đoàn tụ được vài ngày nhưng vẫn tiếp tục cãi vã nặng nề nên lại tiếp tục sống ly thân từ tháng 6/2020 cho đến nay. Nay chị thấy vợ chồng không thể hàn gắn được, hôn nhân không hạnh phúc nên chị xin ly hôn anh D.
Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 24/3/2015 và cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/7/2017. Hiện cả hai con chung đang ở với bố mẹ chồng. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thị Ngọc Á và để anh D nuôi cháu Nguyễn Gia B, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn D trình bày: Anh và chị T có được tự nguyện tìm hiểu trước khi kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau đó, vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh muốn chị T chuyển về gần nhà làm nhưng chị T không đồng ý lại còn tự ý bỏ đi ở trọ tại Công ty. Nay, chị T làm đơn xin ly hôn anh có nguyện vọng được đoàn tụ để cùng chăm lo cho con cái.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về tố tụng: Về việc vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Lệ T: chị T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Lệ T và anh Nguyễn Văn D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Tại phiên tòa phúc thẩm anh D rút kháng cáo về quan hệ hôn nhân vì anh đồng ý ly hôn. Xét thấy việc rút kháng cáo của anh D là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp quy định pháp luật nên căn cứ khoản 3 Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Nguyễn Văn D về phần quan hệ hôn nhân.
[3]. Về nuôi con chung: Vợ chồng chị T, anh D có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 24/3/2015 và cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/7/2017. Bản án sơ thẩm giao cháu Nguyễn Thị Ngọc Á cho chị Nguyễn Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Gia B cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy bản án sơ thẩm căn cứ vào điều kiện thực tế của các bên để giao mỗi người nuôi một con chung là có căn cứ và đảm bảo quyền và lợi ích của con chung.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Nguyễn Văn D về phần quan hệ hôn nhân.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về nuôi con chung.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 24/3/2015 cho chị Nguyễn Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/7/2017 cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T, anh D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 13/2021/HNGĐ-PT ngày 31/03/2021 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 13/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung giữa chị T và anh D
