|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI Bản án số: 13/2021/DS-ST. Ngày: 04/6/2021. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
“V/v: Tranh chấp kiện đòi nợ tiền phát sinh từ hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Lành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Cảnh;
2. Bà Nguyễn Thị Thi Nhi.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Đình Mão – Thư ký Toà án nhân dân huyện KBang, tỉnh Gia Lai.
Ngày 04/6/2021, tại trụ sở TAND huyện Kbang, Gia Lai. TAND huyện KBang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 120/2020/TLST-DS ngày 28/12/2020. Về việc: “Tranh chấp kiện đòi nợ tiền phát sinh từ hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2021/QĐST -DS ngày 19/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2021/QĐST- DS ngày 12/5/2021. Giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội (CSXH).
Địa chỉ: Tòa nhà CC5, bán đảo Linh Đàm, quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Thu H, chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Địa chỉ chi nhánh: Số 265, đường Quang Trung, thị trấn K, huyện K, Gia Lai. - - Bị đơn: Chị Mai Thị Q, sinh năm 1982;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969;
Cùng địa chỉ: Thôn Thống Nhất, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Bà Hiền có đơn xin vắng mặt; chị Q và ông L lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/12/2020; tại Bản tự khai ngày 28/12/2020, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đinh Thị Thu H trình bày:
Vào ngày 15/3/2019, chị Mai Thị Q đã vay vốn tín dụng ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện K, tỉnh Gia Lai, với số tiền là nợ gốc là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), theo Sổ vay vốn có mã khách hàng 4200026174; mục đích sử dụng tiền vay để trồng cà phê; Thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày 15/3/2019, lãi suất cho vay là 9%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn; hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay tín chấp chị Quý là người vay còn ông L là người ủy quyền cho chị Q đại diện hộ vay vốn.
Theo thỏa thuận trên hồ sơ vay vốn ký kết tại Ngân hàng thì hàng tháng gia đình chị Q - ông L phải trả lãi, nhưng hơn 5 tháng nay gia đình chị Q - ông L chưa trả lãi cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở. Như vậy Quý - ông Liệu đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết đã thỏa thuận. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Mai Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ từ hợp đồng tín dụng tạm tính đến hết ngày 24/12/2020 là 52.009.590 đồng (năm mươi hai triệu, không trăm không chín nghìn, năm trăm chín mươi đồng) bao gồm: Nợ gốc là 50.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 2.009.590 đồng.
Đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn chị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L ngoài việc phải trả cho Ngân hàng số tiền được ghi trong đơn khởi kiện thì còn phải trả tiếp số tiền nợ lãi trong hạn phát sinh đến ngày 04/6/2021 (ngày xét xử sơ thẩm vụ án) là 1.984.932 đồng.
Như vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn chị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L trả nợ phải cho Ngân hàng CSXH thông qua Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện K, tỉnh Gia Lai tổng số tiền là 53.994.522 đồng (năm mươi ba triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc là 50.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn đến ngày 04/6/2021 là 3.994.522 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Việc vay vốn giữa bị đơn chị Mai Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L (chị Q là người vay, ông L là người ủy quyền cho chị Q đại diện hộ vay vốn) và Ngân hàng đã ký kết là sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành. Vì vậy, việc chị Quý và ông Liệu không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong Hợp đồng, buộc Ngân hàng khởi kiện đòi nợ là có cơ sở và thuộc thẩm quyền của TAND huyện Kbang, Gia Lai.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng: Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Sổ vay vốn có mã khách hàng 4200026174; thể hiện chị Quý và ông Liệu đã vay vốn với mục đích sử dụng tiền vay để trồng cà phê; thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày 15/3/2019, lãi suất cho vay là 9%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn; hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay tín chấp, chị Q là người vay còn ông L là người ủy quyền cho chị Q đại diện hộ gia đình vay vốn.
Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn chị Mai Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày 04/6/2021 là 53.994.522 đồng là có căn cứ và đúng pháp luật nên được HĐXX chấp nhận toàn bộ.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 91, 93, 94, 95, 96, 108, khoản 3 Điều 144; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ vào các Điều 280, 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội. Buộc bị đơn chị Mai Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua Chi nhánh Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện K, Gia Lai số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng theo Sổ vay vốn có mã khách hàng 4200026174 ngày 15/3/2019 là 53.994.522 đồng (năm mươi ba triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc là 50.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn đến ngày 04/6/2021 là 3.994.522 đồng.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện K; - THADS huyện K; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Lành |
Bản án số 13/2021/DS-ST ngày 04/06/2021 của Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về tranh chấp kiện đòi nợ tiền phát sinh từ hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 13/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi nợ tiền phát sinh từ hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: *Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội. Buộc bị đơn chị Mai Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua Chi nhánh Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện K, Gia Lai số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng theo Sổ vay vốn có mã khách hàng 4200026174 ngày 15/3/2019 là 53.994.522 đồng (năm mươi ba triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc là 50.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn đến ngày 04/6/2021 là 3.994.522 đồng (tính đến ngày 04/6/2021).
