Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC


Bản án số: 13/2021/DS-PT

Ngày 25 - 3 - 2021

V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Bích Ngọc; Ông Nguyễn Duy Sơn.

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2020/TLPT-DS ngày 26 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2020/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 80/2020/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị G, sinh năm 1943, “có mặt”;
    Cư trú: Tổ dân phố Th, thị trấn L, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
    Người đại diện theo ủy quyền của cụ G là anh Dương Minh Đ, sinh năm 1987; Cư trú: Thôn G1, xã B1, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Theo giấy ủy quyền ngày 22 tháng 02 năm 2021), “có mặt”.
  2. Bị đơn: Ông Trần Duy T, sinh năm 1966, “có mặt”;
    Cư trú: Tổ dân phố Th, thị trấn L, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ông Trần Duy B2, sinh năm 1963, vắng mặt; Cư trú: Tổ dân phố Th, thị trấn L, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
    • Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972, có mặt; Cư trú: Tổ dân phố Đ1, thị trấn L, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
    • Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979, vắng mặt; Cư trú: Thôn C, xã R, huyện N, tỉnh Đăk Nông.
    • Anh Trần Duy K, sinh năm 1991, vắng mặt; Cư trú: Phố V, phường Kh, quận X, thành phố Hà Nội.
    • Người đại diện theo ủy quyền của ông B2, bà T1, bà H, anh K là chị Tống Thị A, sinh năm 1995, địa chỉ: xã A1, huyện L1, tỉnh Hà Nam (Theo giấy ủy quyền ngày 29/8/2019), vắng mặt.
  4. Người kháng cáo: Ông Trần Duy T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 3 năm 2019, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn là cụ Nguyễn Thị G, người đại diện theo ủy quyền của cụ G là anh Dương Minh Đ trình bày:

Cụ và chồng cụ là Trần Duy F có 05 người con là: Trần Duy B2, sinh năm 1963; Trần Duy T, sinh năm 1966; Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972; Nguyễn Thị H, sinh năm 1979, Trần Duy Tr (đã chết năm 1993). Chồng cụ là Trần Duy F, sinh năm 1940 chết ngày 15/2/2010 tại nhà riêng ở tổ dân phố Th, thị trấn L, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi cụ F chết bố, mẹ đẻ cụ F không còn ai, cụ F không có cha nuôi, mẹ nuôi, không có con nuôi, con riêng. Năm 1993 con trai cụ là Trần Duy Tr đã chết, anh Tr có một người con trai là Trần Duy K, sinh năm 1991. Hộ gia đình cụ có 01 tài sản chung là 468m² diện tích đất nông nghiệp quỹ I được cấp cho hộ gia đình gồm bốn nhân khẩu: Nguyễn Thị G, Trần Duy F, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị H. Để phục vụ dự án cụm công nghiệp làng nghề của thị trấn L, hộ gia đình cụ bị thu hồi 468m² diện tích đất nông nghiệp quỹ I. Ngày 30/6/2017, hộ gia đình cụ được hưởng chế độ thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất tại dự án cụm công nghiệp làng nghề, thị trấn L. Cụ thể tổng diện tích được ưu tiên thuê không thông qua đấu giá là: 110.50m². Ngày 22/12/2017, hộ gia đình cụ được hỗ trợ đất dịch vụ với diện tích là 15.60 m². Cụ đã có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất dịch vụ, đất thuê không thông qua đấu giá đối với ông Trần Duy T tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, tuy nhiên trong các cuộc hòa giải do Ủy ban nhân dân thị trấn L chủ trì đều không thành.

Hiện nay, diện tích đất 110.50 m² và 15,60 m² đang do cụ quản lý và theo giá quy định của nhà nước cho phần diện tích đất 110.50 m² là 1.200.000 đồng/m², phần diện tích đất 15,60 m² là 4.000.000 đồng/m². Tổng giá trị của số diện tích đất 110.50 m² và 15,60 m² là 195.000.000 đồng, cụ đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

Đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung cho các thành viên trong hộ gia đình. Cụ thể: 15,60 m² đất dịch vụ chia cho bốn người là Nguyễn Thị G, Trần Duy F, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị H mỗi người được 3,9 m². Tổng diện tích 110.50 m² đất được ưu tiên thuê không thông qua đấu giá chia cho bốn người là Nguyễn Thị G, Trần Duy F, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị H mỗi người được 27,625 m².

Phân chia di sản thừa kế mà cụ F để lại cho các thừa kế: Cụ F chết không để lại di chúc nên sẽ chia thừa kế theo pháp luật, phần diện tích đất dịch vụ của cụ F 3,9 m² sẽ chia đều cho vợ và 05 con là: Nguyễn Thị G, Trần Duy B2, Trần Duy T, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị H, Trần Duy Tr chết năm 1993 có thừa kế thế vị con là Trần Duy K, sinh năm 1991, mỗi người được 0,65 m². Phần diện tích đất được ưu tiên thuê không thông qua đấu giá 27,625 m² chia đều cho vợ là cụ Nguyễn Thị G và 05 con là: Trần Duy B2, Trần Duy T, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị H, Trần Duy Tr chết năm 1993 có thừa kế thế vị con là Trần Duy K, sinh năm 1991 mỗi người được hưởng 4,6 m², cụ xin được sở hữu, sử dụng toàn bộ số đất dịch vụ và chế độ thuê đất không thông qua đấu giá trên và thanh toán bằng tiền cho những người khác.

Tại đơn văn bản ý kiến ngày 26/6/2019 bị đơn ông Trần Duy T trình bày: Ông đã nhận được thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ án. Về phần đất dịch vụ và đất 49 năm ở làng nghề như sau: Năm 1985 ông tham gia nhập ngũ, lý lịch của gia đình ông như sau: Bố ông là Trần Duy F, mẹ ông là Nguyễn Thị G, anh trai ông là Trần Duy B2, ông là Trần Duy T, em trai ông là Trần Duy Chung, em gái ông là Trần Thị T1, em gái Trần Thị H, gia đình ông không có con nuôi và ai tên là Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Thị H như trong thông báo về việc thụ lý vụ án, ông xin được tự hòa giải trong nội bộ gia đình. Năm 1987, khi ông xuất ngũ trở về gia đình, trong xã ai cũng có đất rau xanh (đất của bác Hồ cho), lúc bấy giờ ông còn ở chung với bố, mẹ nên ông không rõ thông tin về diện tích đất này. Khi ông lấy vợ, bố mẹ ông cho ông ra ở riêng, bố mẹ ông chia ruộng cho ông thì ông không có một xuất đất rau xanh như mọi người. Nay nhà nước thu hồi đất và đền bù thì ông không có. Đây là việc của gia đình ông đang hòa giải trong gia đình thì mẹ ông nhờ anh Dương Minh Đ khởi kiện ông, ông mong tòa để gia đình ông hòa giải nội bộ.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Duy B2, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị H, anh Trần Duy K đều thống nhất với quan điểm của cụ Nguyễn Thị G, đề nghị chia tài sản chung và chia di sản thừa kế đối với phần đất dịch vụ được hỗ trợ cho hộ cụ Trần Duy F là 15,6m² và chế độ thuê đất không thông qua đấu giá là 110,50m² cho các thành viên trong hộ gia đình cụ Trần Duy F theo quy định của pháp luật. Kỷ phần của ông Trần Duy B2, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị H, anh Trần Duy K được hưởng thống nhất cho cụ Nguyễn Thị G, cụ G không phải thanh toán bất kỳ khoản chi phí nào cho ông B2, bà T1, bà H, anh K.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2020/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Căn cứ các Điều 357, 468, 219, 105, 609, 611, 612, 623, 649, 650, 651, 652 Bộ luật dân sự 2015; Điều 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị G về việc chia tài sản chung và chia di sản thừa kế đối với phần đất dịch vụ được hỗ trợ cho hộ cụ Trần Duy F. Phân chia 15,6m² đất dịch vụ của hộ cụ Trần Duy F theo phiếu thu số 132 ngày 22/12/2017 như sau: Cụ Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị H mỗi người được chia 4,55m². Ông Trần Duy B2, ông Trần Duy T, anh Trần Duy K, mỗi người được chia 0,65 m². Giao toàn bộ phần đất dịch vụ 15,6m² cho cụ Nguyễn Thị G sở hữu và sử dụng. Cụ G phải thanh toán trị giá phần thừa kế đất dịch vụ mà ông Trần Duy T được hưởng từ cụ Trần Duy F là 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng chẵn).

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21 tháng 8 năm 2020, ông Trần Duy T là bị đơn kháng cáo không đồng ý nội dung bản án sơ thẩm đã chia di sản của bố ông cho bà Nguyễn Thị T1 và bà Nguyễn Thị H vì trong lý lịch gia đình nhà ông không có ai là Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Thị H, chỉ có Trần Thị T1 và Trần Thị H. Mặt khác gia đình ông đang hòa giải nên đề nghị Toà án đình chỉ vụ án để gia đình ông tự giải quyết với nhau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hình thức: Kháng cáo của ông Trần Duy T làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.

[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Trần Duy T. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Trong quá trình giải quyết sơ thẩm, cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ và xác minh tại địa phương xác định cụ Nguyễn Thị G và cụ Trần Duy F có 03 người con trai và 02 người con gái là: Trần Duy B2, Trần Duy T, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị H và Trần Duy Tr (đã chết). Giấy khai sinh của bà H và bà T1 đều ghi mẹ là Nguyễn Thị G và bố là Trần Duy F. Do đó ông T khai trong lý lịch gia đình nhà ông không có ai tên là Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Thị H là không đúng. Vì vậy, kháng cáo của ông T về nội dung này không có căn cứ nên không được cấp phúc thẩm chấp nhận.

Nội dung thứ hai: Đề nghị cấp phúc thẩm đình chỉ vụ án để gia đình ông tự giải quyết. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm cụ Nguyễn Thị G là nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vì gia đình không thống nhất được với nhau. Do đó đề nghị đình chỉ vụ án của ông T không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 13/2020/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị G về việc chia tài sản chung và chia di sản thừa kế đối với phần đất dịch vụ được hỗ trợ cho hộ cụ Trần Duy F. Phân chia 15,6m² đất dịch vụ của hộ cụ Trần Duy F theo phiếu thu số 132 ngày 22/12/2017 như sau: Cụ Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị H mỗi người được chia 4,55m². Ông Trần Duy B2, ông Trần Duy T, anh Trần Duy K, mỗi người được chia 0,65 m². Giao toàn bộ phần đất dịch vụ 15,6m² cho cụ Nguyễn Thị G sở hữu và sử dụng. Cụ G phải thanh toán trị giá phần thừa kế đất dịch vụ mà ông Trần Duy T được hưởng từ cụ Trần Duy F là 2.600.000 đồng.

2. Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền chi phí định giá tài sản là 1.100.000 đồng, anh Dương Minh Đ tự nguyện chịu toàn bộ.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Duy T phải chịu 300.000 đồng. Cụ Nguyễn Thị G được miễn án phí, cụ G phải chịu thay cho ông Trần Duy B2, anh Trần Duy K, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị H tổng số là 2.420.000 đồng.

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Duy T phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- TAND huyện B;
- Chi cục THADS huyện B;
- Các đương sự;
- Lưu: HS, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa


(Đã ký)

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2021/DS-PT ngày 25/03/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 13/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà G khởi kiện phân chia di sản thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger