Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG


Bản án số: 13/2021/DS-PT
Ngày: 08/02/2021
Về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hưng

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hà
Ông Đào Chí Keo

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng Nhớ, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Bà Lương Thị Hương, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 04 và ngày 08 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 245/2020/TLPT-DS ngày 01/12/2020 về “Tranh chấp đòi tài sản”.

Do Bản án số 31/2020/DS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 261/2020/QĐXX-PT ngày 22/12/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/QĐ.PT ngày 14/01/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1960; cư trú: phường P, thành phố Đ1, tỉnh An Giang. (có mặt)

Đại diện hợp pháp của bà D: ông Đặng Hùng D1, sinh năm 1961; cư trú: phường T, thị xã C, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 21/12/2020). (có mặt)

2. Bị đơn: ông Mai Xuân Đ, sinh năm 1953; cư trú: khóm C1, phường P, thành phố Đ1, tỉnh An Giang. (có mặt)

Đại diện hợp pháp của ông Đốc: bà Mai Thị K, sinh năm 1950; cư trú: phường P, thành phố Đ1, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 01/11/2017 và ngày 02/5/2018). (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ: ông Trần Văn S, Luật sư Văn phòng luật sư Trần Văn S – Đoàn Luật sư tỉnh An Giang. (có mặt)

Người kháng cáo: ông Mai Xuân Đ là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2017, các lời khai trong quá trình tiến hành tố tụng và lời khai tại phiên toà phía nguyên đơn trình bày: Vào năm 2008, nguyên đơn và ông Mai Xuân Đ quen biết và sống chung với nhau, trước khi về sống chung cùng nguyên đơn, ông Đ có chăn nuôi heo và làm rẫy. Trong thời gian chung sống, ông Đ có hỏi mượn tiền và vàng của nguyên đơn, cụ thể:

* Số vàng:

  • Tháng 6/2008 mượn 01 lượng vàng 24 kara để trả tiền mua cám;
  • Tháng 7/2010 mượn 01 lượng vàng 24 kara để xây chuồng nuôi heo;
  • Tháng 9/2011 mượn 01 lượng vàng 24 kara để trả tiền mua thức ăn cho heo.

Tổng cộng số vàng là 03 (ba) lượng vàng 24 kara.

* Tiền mặt:

  • Năm 2009, mượn nhiều lần số tiền là 90.000.000 đồng;
  • Năm 2010, mượn nhiều lần số tiền là 60.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền là 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.

Đến năm 2012, nguyên đơn nhiều lần đòi lại tiền, vàng đã mượn nhưng ông Đ hẹn nhiều lần. Đến ngày 14/4/2012, ông Đ làm Tờ cam kết hứa đến ngày 30/8/2012 sẽ trả đủ 150.000.000 đồng, còn 03 lượng vàng hẹn đến cuối tháng 12/2014 sẽ trả đủ.

Tài liệu chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp chứng minh cho yêu cầu khởi kiện:

  • Tờ cam kết ngày 14/4/2012;
  • Tờ cam kết ngày 01/6/2012.

* Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn là yêu cầu nguyên đơn có nghĩa vụ liên đới trả các khoản nợ gồm:

  • Ngân hàng chính sách xã hội 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng (vay 30.000.000 đồng);
  • Hợp tác xã nông nghiệp phường Châu Phú A: Trả lại cho ông Đ 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng (theo hợp đồng vay là 30.000.000 đồng, ông Đ đã trả xong), tiền lãi còn nợ Hợp tác xã là trả 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng (còn nợ lại tiền lãi hợp tác xã 7.000.000 đồng);
  • Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh Châu Đốc: yêu cầu bà D trả lại cho ông Đ 75.000.000 (bảy mươi lăm triệu) đồng (theo hợp đồng vay là 150.000.000 đồng và ông Đ đã trả xong ngân hàng Nông nghiệp để vay ngân hàng khác).

Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu của bị đơn với lý do việc ông Mai Xuân Đ vay tiền là của cá nhân ông Đ, bà D không có ký tên hay sử dụng chung khoản tiền này của ông Đ. Yêu cầu ông Đ đưa ra chứng cứ chứng minh.

- Theo lời khai trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên toà đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Ông Mai Xuân Đ không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Mỹ D. Đây là việc hùn vốn để chăn nuôi heo, trồng rẫy giữa bà D và ông Đ trong thời gian chung sống với nhau có cất 01 căn nhà liền kề để 02 người chung sống.

Nếu bà D cho rằng đây là quan hệ vay mượn thì phải chứng minh được việc ông Đ vay mượn tiền, vàng của bà D.

Theo Tờ cam kết ngày 01/6/2012, bà D cung cấp cho Tòa án là do bà D ngụy tạo và đã có kết luận giám định ngày 21/01/2020 xác định không phải chữ ký của ông Đ.

Đối với Tờ cam kết ngày 14/4/2012, bà D chung sống với ông Đ từ năm 2008 đến năm 2012, khi bà D về sống chung với ông Đ thì ông Đ đã có nuôi heo. Khi đến năm 2012, bà D có mâu thuẫn với gia đình con cái ông Đ thì bà D không còn sinh sống tại nhà ông Đ nữa mà trở về nhà bà D sống. Đến lúc này thì ông Đ mới viết tờ cam kết này để xác định phần hùn của mỗi bên, bên phía bà D là tiền mặt 150.000.000 đồng và 03 lượng vàng hùn vào để chăn nuôi heo. Sau đó, bà D và ông Đ chung sống trở lại nên vốn này tiếp tục hùn vào việc nuôi heo, nuôi xong và bán heo đều do bà D giữ tiền. Đến năm 2014, khi heo bị dịch bệnh, một số chết và một số bán hết chuồng được khoản 80.000.000 đồng, bà D thu giữ 60.000.000 đồng, người bán heo còn thiếu 20.000.000 đồng. Ông Đ, bà D vẫn tiếp tục sống chung và tiếp tục trồng rẫy. Thu hoạch rẫy cũng có lời từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Đến năm 2016, bà D không còn chung sống với ông Đ, bà D có chồng. Đến năm 2017, bà D đem tờ cam kết ngày 14/4/2012 đi kiện ông Đ đòi nợ. Trong khi hòa thuận lại ông Đ hỏi thì nói xé bỏ rồi.

Từ đó, xác định việc hùn vốn giữa ông Đ và bà D tiếp diễn từ khi chung sống năm 2008 đến năm 2015 thì việc thua lỗ trong chăn nuôi và trồng rẫy thì các bên đều phải cùng chịu. Xác định ông Đ không vay tiền vàng của bà D, chỉ có việc bà D hùn tiền, vàng vào với ông Đ để chăn nuôi heo, trồng rẫy.

Tờ cam kết ngày 14/4/2012 là việc xác định phần hùn vốn của bà D chứ không phải ông Đ xác định nợ tiền, vàng của bà D.

* Đối với yêu cầu phản tố: Ông Đ yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ D cùng có nghĩa vụ liên đới trả các khoản nợ gồm các khoản vay tại Ngân hàng chính sách xã hội, Hợp tác xã nông nghiệp phường Châu Phú A và Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh Châu Đốc như đã nêu trên.

Lý do: vì trong thời gian chung sống với nhau, ông Đ vay tiền để hùn chăn nuôi heo với bà D và sử dụng sinh hoạt thiết yếu cuộc sống của bà D, ông Đ.

Tại Bản án số 31/2020/DS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc đã xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D; buộc ông Mai Xuân Đ có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ D số tiền 300.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Mai Xuân Đ.

Ngày 15/10/2020, ông Mai Xuân Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục: Đơn kháng cáo của ông Mai Xuân Đ được xem xét theo quy định.

[2] Về luật áp dụng: Do hai bên chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn nên áp dụng pháp luật dân sự để giải quyết tranh chấp tài sản.

[3] Về nội dung: Hội đồng xét xử xét thấy ông Đ đã lập tờ cam kết xác nhận phần hùn của bà D. Tuy nhiên, không có chứng cứ cho thấy bà D tiếp tục hùn vốn sau đó hoặc cùng chịu lỗ. Việc quy đổi vàng ra tiền tại thời điểm xét xử sơ thẩm là phù hợp và có lợi cho bị đơn.

[4] Về yêu cầu phản tố: Không có cơ sở buộc bà D liên đới chịu trách nhiệm các khoản vay do ông Đ đứng tên mà không có sự đồng ý hoặc ký kết của bà D.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Mai Xuân Đ. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 31/2020/DS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D. Buộc ông Mai Xuân Đ trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ D số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Mai Xuân Đ đối với bà Nguyễn Thị Mỹ D về việc yêu cầu trả số tiền 108.500.000 đồng.
  3. Về án phí: Ông Mai Xuân Đ được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm và sơ thẩm.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
- Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc;
- Chi cục thi hành án dân sự Tp.Châu Đốc;
- Đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Phước Hưng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2021/DS-PT ngày 08/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 13/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/02/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà D và ông Đ chung sống như vợ chồng; quá trình chung sống, bà D cho ông Đ vay một số tiền và vàng nên yêu cầu ông Đ trả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger