TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12A/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12-02-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Đoàn
Ông Nguyễn Công Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Hà- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 552/2024/TLST-HNG về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thụy Anh T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ A, khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Phúc A, sinh năm 1982. Địa chỉ: khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn bà Huỳnh Thụy Anh T trình bày:
Hôn nhân: Bà Huỳnh Thụy Anh T và ông Phạm Phúc A đến với nhau do quen biết, vợ chồng kết hôn và chung sống từ đầu năm 2011, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 77/2011, quyển số 01/2011 ngày 12/5/2011.
Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được vài năm, đến năm 2015 mâu thuẫn phát sinh nên bà T đến Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Sau đó, năm 2017 vợ chồng quay lại chung sống tuy nhiên vợ chồng không còn tình cảm dẫn đến cuộc sống ngột ngạt, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung. Do đó, năm 2019 bà T đi xuất khẩu lao động đến năm 2021. Đến năm 2022, bà T dọn ra ở nhà trọ với con gái nhỏ tới nay. Xét thấy vợ chồng không thể hàn gắn được mặc dù đã hòa giải nhiều lần nên bà T yêu cầu ly hôn với ông A.
Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Thanh T1, sinh ngày 15/9/2011 và Phạm Thanh N, sinh ngày 21/4/2013. Bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, bị đơn ông Phạm Phúc A mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông A không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà căn cứ các kết quả tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An và quan hệ tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 các Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về việc giải quyết vắng mặt: Bà Huỳnh Thụy Anh T có đơn xin vắng mặt, ông Phạm Phúc A vắng mặt không có lý do dù đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần. Do đó, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Thụy Anh T và ông Phạm Phúc A kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Long An vào năm 2011, đúng với quy định tại Khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết có tổ chức hòa giải để vợ chồng có điều kiện đoàn tụ nhưng bà T vẫn kiên quyết ly hôn và ông A không đến hòa giải.
Tòa án đã hòa giải đoàn tụ nhưng không thành và hiện nay vợ chồng không còn sống chung đã lâu. Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”, xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông A đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thụy Anh T với ông Phạm Phúc A.
[4] Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Thanh T1, sinh ngày 15/9/2011 và Phạm Thanh N, sinh ngày 21/4/2013. Bà T yêu cầu nuôi 02 con chung sau khi ly hôn, xét thấy ông A không có yêu cầu và không tham gia giải quyết. Mặt khác, con chung có nguyện vọng sống với bà T. Do đó, Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho bà T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[6] Về án phí: Bà Huỳnh Thụy Anh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 29, 51, 53, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thụy Anh T về việc xin ly hôn.
- Về con chung: Giao cho bà Huỳnh Thụy Anh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thanh T1, sinh ngày 15/9/2011 và Phạm Thanh N, sinh ngày 21/4/2013. Ông Phạm Phúc A không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Bà Huỳnh Thụy Anh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước. Chuyển 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng mà bà T đã nộp theo biên lai thu số 0013401 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An sang án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thụy Anh T được ly hôn với ông Phạm Phúc A.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; cấp dưỡng nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83, 85, 110,116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phương Thảo |
Bản án số 12A/2025/HNGĐ-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 12A/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn
