Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 12A/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21 – 3 – 2025

V/v “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Thanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Ngọc Linh

2. Bà Phạm Thị Thanh Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trọng Lợi- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy– Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 23/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/QĐST-HPT ngày 17/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Bà Điểu Thị Thanh D, sinh năm 2002 (Vắng mặt có đơn xin vắng)

Địa chỉ : Tổ 2, khu phố Bình Tây, phường Hưng Chiến, thị xã Bình L, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn : Ông Điểu L, sinh năm 2001 (Vắng mặt không có lý do).

Cùng địa chỉ : Tổ 2, ấp 3, xã An Khương, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Điểu Thị Thanh D trình bày:

Bà D và ông L tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hưng Chiến, thị xã Bình L, tỉnh Bình Phước năm 2022. Hiện nay cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề, vợ chồng hay cãi vã nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nhận thấy vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không thể tiếp tục chung sống nên bà D yêu cầu ly hôn với ông L.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con tên Điểu Thị Xa M, sinh năm 2021; Khi ly hôn bà D yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Điểu L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến tòa án làm việc.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà D được ly hôn ông L. Giao con con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không có nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông L có nơi cư trú tại xã An Khương, huyện Hớn Quản nên đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ông L được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng không đến tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông L.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông L tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường Hưng Chiến, thị xã Bình L, tỉnh Bình Phước nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Bà D yêu cầu ly hôn với ông L do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không thể tiếp tục chung sống với nhau. Tại biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp thông tin xác nhận bà D và ông L hiện nay không còn sống cùng nhau, con chung hiện đang ở với bà D, như vậy có thể xác định mâu thuẫn giữa bà D và ông L là có thật. Ông L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia quá trình giải quyết vụ án, không trình bày ý kiến về yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.

[3] Về con chung: Con chung là Điểu Thị Xa M, sinh năm 2021; Quá trình vợ chồng sống ly thân, con chung do bà D nuôi dưỡng, vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên nên giao con chung cho bà D nuôi dưỡng. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho bà D nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D chưa yêu cầu nên không xem xét

[4] Tài sản chung và nợ chung: Không có nên không giải quyết.

[5] Quan điểm của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 207, 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Điểu Thị Thanh D được ly hôn với ông Điểu L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 24/3/2022 của Ủy ban nhân dân phường Hưng Chiến, thị xã Bình L, tỉnh Bình Phước không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao con chung Điểu ThịXa M, sinh năm 2021cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D chưa yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, người trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi.

4. Án phí sơ thẩm: Bà D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Trúc đã nộp theo biên lai thu số 0005609 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Các HTND

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Các đương sự;
  • - Nơi ĐKKH;
  • - CCTHADS huyện Hớn Quản;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Văn Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12A/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 12A/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị D và anh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger