Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1299/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25/12/2023

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Luy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Ngọc Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án thụ lý số 1272/2022/TLST-HNGĐ ngày 05/10/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/9/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 418/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01/12/2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/9/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đinh Thị N, sinh năm 1982

Địa chỉ: F T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1984

HKTT: 997/48 T, Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: 1 Trịnh Thị D, Tổ A, Ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 23/9/2022, các Bản tự khai và các Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn là bà Đinh Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn M tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 135 ngày 23/10/2017. Khoảng giữa năm 2018, vợ chồng bà có mua một căn nhà tại địa chỉ 1 T, Tổ A, Ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngay sau khi mua nhà, bà, ông Trần Văn M và con trai tên Trần Đinh Trọng H về cư trú tại căn nhà trên. Quá trình chung sống, vợ chồng bà sống hạnh phúc được khoảng thời gian ngắn và sau đó phát sinh rất nhiều bất đồng về quan điểm sống. Khoảng cuối năm 2019, bà thuê nhà tại Quận H để làm việc và sống cùng con trai. Sau khi bà dọn ra ngoài sinh sống, ông Trần Văn M nhiều lần tìm đến chỗ bà ở và khuyên bà hàn gắn quan hệ vợ chồng, yêu cầu bà đưa con về lại căn nhà tại huyện H sinh sống. Bà cũng muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng để con có cha nên bà quay về H ở một thời gian. Trong thời gian này, bà có bầu bé thứ hai và sinh con. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng không những không giảm đi mà ngày càng căng thẳng, gay gắt nên bà và các con lại chuyển về thuê nhà ở Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để bà thuận tiện làm việc và chăm sóc con cái. Trong khoảng thời gian bà và các con ở tại Quận H thì ông Trần Văn M vẫn sinh sống tại căn nhà chung của hai vợ chồng tại địa chỉ 1 T, Tổ A, Ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đến khoảng tháng 9 năm 2022. Hiện nay bà được biết ông Trần Văn M đã bán căn nhà chung của vợ chồng cho người tên N1. Ông Trần Văn M không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng nên ông M đã có những hành động cụ thể như sau: Không quan tâm đến vợ và các con. Một tuần, khoảng 3-4 lần, ông M ghé qua nơi mẹ con bà đang ở và làm việc để đón cháu H đi chơi nhưng chưa một lần ông M cho bà biết thực tế nơi ông M cư trú hiện nay là ở địa chỉ nào. Khi đến đón con đi chơi, ông M và bà không ai nói chuyện với ai. Nhà đất tại số A T, Tổ A, Ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của hai vợ chồng nhưng ông M tự ý mang đi bán và cầm tiền, không hề thông báo, bàn bạc và đưa một phần tiền nào đó từ việc bán căn nhà trên cho bà. Trước khi bà nộp đơn ra Toà thì ông M luôn yêu cầu bà phải ly hôn với ông M. Nhưng khi bà chính thức nộp đơn ra Toà án, bà đã thông báo ngày giờ mà Toà án triệu tập hai bên cho ông M biết và yêu cầu ông M cùng đến Toà án nhưng ông M không hợp tác mà luôn lấy lý do bận đi làm kiếm tiền, không có thời gian đến Toà và nói với bà cứ để cho Toà án muốn giải quyết thế nào thì giải quyết.

Bà đã nhiều lần cố gắng hàn gắn, đưa ra nhiều giải pháp, cơ hội cho nhau với mong muốn đoàn tụ gia đình nhưng cuộc sống hôn nhân của ông bà vẫn luôn căng thẳng, bà và ông M vẫn không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, bà và ông M đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M để bà sớm ổn định cuộc sống và tập trung nuôi dạy hai con nhỏ.

Về con chung: Có có 02 con chung tên Trần Ngọc Lan A, sinh ngày 11/9/2021 và Trần Đinh Trọng H, sinh ngày 08/01/2018. Từ sau khi sống ly thân với ông M cho đến thời điểm hiện nay, bà là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc va đưa đón hai trẻ Anh và H trong việc học hành. Để tạo điều kiện cho các trẻ ổn định về tinh thần, ổn định về mặt sinh hoạt, học tập hàng ngày, bà Đinh Thị N đề nghị được là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 trẻ Trần Ngọc Lan ATrần Đinh Trọng H. Bà N không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

Về tài sản chung: Bà N xác định không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có. Bà N xác định không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đinh Thị N xác định tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Bị đơn – ông Trần Văn M vắng mặt trong suốt qua trình tố tụng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tiến hành các thủ tục tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa tại nơi đăng ký thường trú và nơi đăng ký lưu trú của bị đơn, nhưng trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn đã không đến Tòa tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu của mình đối với ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Tại phiên toà hôm nay:

Nguyên đơn: Ngày 25/12/2022, bà Đinh Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn – ông Trần Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Bị đơn không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hay vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:

  • Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa; Việc gửi, cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thời hạn giải quyết vụ án và thời hạn mở phiên tòa sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử tuân thủ quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

    Đối với nguyên đơn: Từ khi nộp đơn khởi kiện đến phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

    Đối với bị đơn: Từ khi vụ án được thụ lý đến phiên tòa hôm nay, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

  • Về nội dung vụ án: Xét thấy đời sống hôn nhân giữa bà N, ông M không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Giao con chung tên Trần Đinh Trọng H, sinh ngày 08/01/2018 và Trần Ngọc Lan A, sinh ngày 11/9/2021 cho bà Đinh Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn không đóng góp phí tổn nuôi con do nguyên đơn không có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 135 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/10/2017 thì bà Đinh Thị N và ông Trần Văn M có mối quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Bà N có đơn xin ly hôn với ông M. Ông M lưu trú tại huyện H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2]. Về tư cách tố tụng:

Nguyên đơn bà Đinh Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà N.

Bị đơn ông Trần Văn M không có yêu cầu phản tố và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt. Ông M không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hay vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông M.

[3]. Về quan hệ hôn nhân:

[3.1]. Bà Đinh Thị N trình bày: Quá trình chung sống bà N và ông M sống hạnh phúc được khoảng 02 năm. Từ khoảng năm 2022, cuộc sống hôn nhân bắt đầu có những rạn nứt, không hạnh phúc do mâu thuẫn về quan điểm sống, về cách chăm sóc, nuôi dạy con cái. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ chồng rằng cả hai cần cố gắng sửa chữa cái tôi của mỗi bên để hàn gắn quan hệ vợ chồng nhằm giúp cho 02 con có đủ cha đủ mẹ nuôi dưỡng nhưng nhưng cuộc sống hôn nhân của ông bà vẫn luôn căng thẳng, bà và ông M vẫn không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, bà và ông M đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, bà không thể cung cấp được cho Toà án nơi cư trú, làm việc của ông M.

[3.2]. Tại kết quả cung cấp chứng cứ ngày 10/07/2023 của Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời xác minh đối với Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 402/2023/QĐ-CCCC ngày 17/04/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác nhận “Đương sự Trần Văn M, sinh năm 1984 hiện không thực tế cư trú tại 9 T, khu phố C, phường T, quận G. Hiện đang cư trú tại nhà không số, hẻm I L, phường T, Quận G”.

- Tại kết quả cung cấp chứng cứ ngày 08/8/2023 của Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời xác minh đối với Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 151/2023/QĐ-CCCC ngày 13/07/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác nhận “Qua xác minh, tại địa bàn Ô - Khu phố A, phường T, Quận G không có đương sự tên Trần Văn M, sinh năm 1984 cư trú tại địa chỉ nhà không số, hẻm I L, Khu phố A, phường T, Quận G và không có người tên Trần Văn M đăng ký thường trú, tạm trú tại địa chỉ trên. Qua xác minh địa bàn Ô - Khu phố A, phường T, Quận G cũng không có đương sự tên Trần Văn M, sinh năm 1984 thực tế cư trú hay đăng ký thường trú, tạm trú tại địa chỉ trên”.

- Tại kết quả cung cấp chứng cứ ngày 22/02/2023 của Công an P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời xác minh đổi với Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 100/2023/QĐ-CCCC ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác nhận “Tại địa chỉ D H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh không có nhân khẩu Trần Văn M, sinh năm 1984 đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú hoặc thực tế cư ngụ tại địa chỉ trên từ 1975 đến nay”.

- Tại kết quả cung cấp chứng cứ ngày 10/07/2023 của Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời xác minh đối với Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 402/2023/QĐ-CCCC ngày 17/04/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác nhận “Đương sự Trần Văn M, sinh năm 1984 có HKTT: 997/48 Trần Xuân S, Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà đã bán, hiện không còn cư trú tại địa phương từ năm 2019. Hiện nay đương sự M đang sinh sống tại nhà không số, Hẻm I L, phường T, Quận G”.

- Tại Kết quả cung cấp chứng cứ ngày 11/07/2023 của Công an xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời xác minh đối với Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 512/2023/QĐ-CCCC ngày 11/05/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác nhận “Qua xác minh thì được biết: Đương sự Trần Văn M, sinh năm 1984 và Đinh Thị N, sinh năm 1982 có đăng ký lưu trú tại số A tổ A, ấp C, xã Đ, huyện H tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với con Trần Đinh Trọng H, sinh năm 2018 và Trần Ngọc Lan A, sinh năm 2021. Từ ngày 17/07/2018 là đúng, cho đến ngày 12/09/2022 thì đương sự Trần Văn M, sinh năm 1984 mới bỏ nhà và bỏ địa phương đã đi đâu không rõ cho tới nay là đúng”.

Căn cứ vào các kết quả trả lời xác minh trên, có đủ cơ sở xác định lời trình bày của bà N về việc ông M không cho bà N biết nơi cư trú thực tế của ông M từ sau khi bà N và ông M sống ly thân cho đến thời điểm hiện nay là có cơ sở.

Và cũng từ các kết quả xác minh trên, có cơ sở xác định nơi cư trú cuối cùng của ông M là tại địa chỉ 120/67 tổ A, ấp C, xã Đ, huyện H tại Thành phố Hồ Chí Minh và ông M không có mặt tại địa phương tại thời điểm Toà án nhân dân huyện Hóc Môn thụ lý vụ án khoảng 01 tháng. Vì vậy, việc niêm yết công khai các văn bản do Toà án nhân dân huyện Hóc Môn phát hành không đảm bảo cho việc ông M nhận được thông tin về các văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo.

Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của ông M trong việc nhận được thông tin về các văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo của Toà án; Đồng thời, trên cơ sở Đơn đề nghị của bà Đinh Thị N, Toà án nhân dân huyện Hóc Môn đã căn cứ vào Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ban hành “Thông báo số 07/2023/TB-TA ngày 28 tháng 9 năm 2023 về các văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng” và đăng trên Cổng thông tin điện tử của của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Cổng thông tin điện tử của của Ủy ban nhân dân Thành phố H. Bà Đinh Thị N đã đăng nội dung Thông báo trên tại B số 278 ngày 05/10/2023, số 279 ngày 06/10/2023, số 280 ngày 07/10/2023; trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 kỳ liên tiếp vào các ngày 09, 10, 11 tháng 10 năm 2023.

[4]. Hội đồng xét xử xét thấy: Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau . . .”. Đối chiếu với lời trình bày của bà N, các tài liệu, chứng cứ Toà án nhân dân huyện Hóc Môn thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án với quy định nêu trên của pháp luật thì thấy: Ông M không cho bà N biết nơi ông M đang thực tế cư trú nên bà N, ông M không thể cùng nhau thực hiện bổn phận, trách nhiệm của người vợ, người chồng trong quan hệ hôn nhân; Cả bà N và ông M đều thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày. Đồng thời, bà N và ông M sống ly thân đã lâu. Hiện nay, bà N vẫn cương quyết yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.

Từ những phân tích trên cho thấy, yêu cầu của nguyên đơn và lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử quyết định cho bà Đinh Thị N được ly hôn với ông Trần Văn M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà N và ông M có 02 con chung tên Trần Đinh Trọng H, sinh ngày 08/01/2018 và Trần Ngọc Lan A, sinh ngày 11/09/2021.

[5.1]. Nguyên đơn bà Đinh Thị N trình bày: Từ sau khi sống ly thân với ông M cho đến thời điểm hiện nay, dù công việc có thu nhập nhưng bà vẫn luôn là người mẹ có trách nhiệm. Hàng ngày, bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, đưa đón hai trẻ HA trong việc học hành. Để tránh xáo trộn về mặt tâm lý và để đảm bảo ổn định việc học hành, các thói quen sinh hoạt hàng ngày và nguyện vọng của chính các con. Sau khi ly hôn, bà N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là trẻ HA. Bà N không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

[5.2]. Tại Kết quả cung cấp chứng cứ ngày 27/10/2023 của Công an P1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời xác minh đối với Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 163/2023/QĐ-CCCC ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác nhận “Bà Đinh Thị N, sinh năm 1982 hiện đang thực tế cư ngụ tại F T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Trẻ Trần Đinh Trọng H, sinh ngày 08/01/2018 và Trần Ngọc L Anh thực tế cư ngụ với mẹ là bà Đinh Thị N”.

Xét thấy, yêu cầu trên của bà N là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.

[6]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Về án phí: Án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Đinh Thị N phải nộp.

[8]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ Luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ Điều 19, 56, 57, 58 và các Điều 68, 69,70, 71, 72, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Luật Thi hành án dân sự;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị N được ly hôn với ông Trần Văn M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 135 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/10/2017 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà N ông M có 02 con chung tên Trần Đinh Trọng H, sinh ngày 08/01/2018 và Trần Ngọc Lan A, sinh ngày 11/9/2021. Sau khi ly hôn, giao 02 con chung chưa trưởng thành là trẻ Trần Đinh Trọng HTrần Ngọc L Anh cho bà Đinh Thị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận ý kiến của bà Đinh Thị N không yêu cầu ông Trần Văn M cấp dưỡng nuôi con chung tên HLan A.

Ông Trần Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai có quyền cản trở. Bà Đinh Thị N có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi khi ông M đến thăm nom con chung.

Trường hợp ông M lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà N có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con.

Trường hợp thay đổi nơi sinh sống, học tập của các trẻ, hai bên phải thông báo cho nhau biết. Vì lợi ích của con, khi cần thiết, có lý do chính đáng một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng việc nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đinh Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Đinh Thị N phải nộp, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2022/0014959 ngày 05/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà Đinh Thị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - THADS huyện Hóc Môn;
  • - Các đương sự;
  • - UBND P. Tân Hưng, Quận 7;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Luy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1299/2023/HNGĐ-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1299/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger