TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1298/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09/9/2024 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Đẹp
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tâm– Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 406/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 282/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần T T L, sinh năm 1979 (có đơn đề nghị xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 38/2 Đặng Thúc Vịnh, ấp Thới Tứ, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Nguyễn C M, sinh năm: 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 6/5 ấp 1, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, các bản tự khai, các biên bản tại Tòa án nguyên đơn là bà Trần T T L trình bày:
Bà Trần T T L ông Nguyễn C M kết hôn với nhau từ năm 2004 và đăng ký kết hôn ngày 31/05/2004 tại Ủy ban nhân dân phường y, quận x, Thành phố Hồ Chí Minh giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số 01/2004. Bà L ông M chuyển đến Hóc Môn sinh sống từ năm 2006 đến nay. Quá trình chung sống thời gian đầu Bà L ông M hạnh phúc, khoảng năm 2015 Bà L ông M bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, hay cãi vã, nguyên nhân do ông M hay nhậu nhẹt, không cùng với Bà L xây dựng cuộc sống gia đình, không lo cho các con. Bà L ông M và gia đình đã cùng nhau hoà giải nhiều lần để tiếp tục duy trì hôn nhân nhưng không thành. Cuộc sống chung không hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được, Bà L ông M đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Từ khi ly thân ông M đã dọn ra ngoài sống riêng tại địa chỉ 6/5 ấp 1, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Bà L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn C M để ổn định cuộc sống lo cho các con.
Về con chung: Bà L các nhận bà và ông M có 02 con chung tên Nguyễn Trần Y N, sinh ngày 09/08/2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Trần Q P, sinh ngày 02/11/2010. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung Nguyễn Trần Q P, sinh ngày 02/11/2010 và Bà L không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Bà L khai bà làm nghề buôn bán ở chợ thu nhập khoảng 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng/1 tháng, Bà L thuê nhà ở cùng các con cuộc sống ổn định, Bà L cam kết sau khi ly hôn một mình bà có thể chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt cho các con chung.
Về nợ chung: Bà L khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung: Bà L khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn C M đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án (ký nhận trực tiếp); Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (ký nhận trực tiếp); Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa (ký nhận trực tiếp) và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông M vắng mặt tại các buổi hòa giải, phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do. Ông M cũng không có văn bản trình bày ý kiến nộp cho Tòa án.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn là bà Trần T T L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn là ông Nguyễn C M đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 72 của Bộ Luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn C M nhưng ông M không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Bà L đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do nên giữa các đương sự không thống nhất được bất kỳ nội dung nào của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con sau ly hôn và bị đơn cư trú tại số 6/5 ấp 1, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Trần T T L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là ông Nguyễn C M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- [3.1]. Về quan hệ hôn nhân: bà Trần T T L và ông Nguyễn C M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường y, quận x, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số 01/2004 có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn C M và bà Trần T T L là hợp pháp.
- [3.2]. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Trần T T L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời khai của nguyên đơn thì trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân rất ngột ngạt ảnh hưởng đến môi trường sống của con, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà L ông M và gia đình đã cùng nhau hòa giải nhiều lần đều không thành. Bà L ông M đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Từ khi ly thân ông M đã dọn ra ngoài sống riêng tại địa chỉ 6/5 ấp 1, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- [3.3]. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã nhiều lần giải thích, động viên Bà L đoàn tụ gia đình, vợ chồng cũng cho nhau cơ hội để hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình cùng nhau nuôi dạy con chung. Nhưng Bà L cho rằng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn.
- [3.4]. Về phần ông M, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng ông M không có bất cứ ý kiến nào phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do, điều này cho thấy ông M đã từ bỏ quyền phản đối của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nên phải tự chịu hậu quả của việc không chứng minh theo khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ trên yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét, giải quyết vụ án.
- [3.5]. Trong suốt thời gian 02 vợ chồng sống ly thân cũng như thời gian Bà L nộp đơn yêu cầu ly hôn, ông M cũng không có bất cứ động thái nào để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình. Điều này chứng tỏ ông M cũng không còn mong muốn níu kéo cuộc hôn nhân này để vợ chồng cùng vun đắp, xây dựng hạnh phúc gia đình.
- [3.6]. Nhận thấy, hôn nhân khi đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, giữa Bà L và ông M đã trải qua thời gian ly thân dài, không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc đến nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng của mình. Như vậy, Bà L và ông M đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- [3.7]. Xét mâu thuẫn chung giữa Bà L và ông M đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Bà L yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở để chấp nhận.
- Về con chung: Theo lời khai của Bà L và căn cứ bản sao giấy khai sinh số 03, quyển số 01/2005 ngày 21/01/2005 và bản sao giấy khai sinh số 92, quyển số 01/2010 ngày 19/11/2010 của Ủy ban nhân dân phường y, quận x, Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở xác định trẻ Nguyễn Trần Y N, sinh ngày 09/8/2004 và trẻ Nguyễn Trần Q P, sinh ngày 02/11/2010 có cha là ông Nguyễn C M và mẹ là bà Trần T T L. Sau khi ly hôn Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu ông Nguyễn C M cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, Nguyễn Trần Y N đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, trẻ Nguyễn Trần Q P hiện tại đang sống ổn định cùng Bà L và căn cứ bản tự khai ngày 08/4/2024 của trẻ Phúc thì nguyện vọng của trẻ muốn được sống cùng với mẹ. Theo Bà L trình bày Bà L làm nghề buôn bán ở chợ thu nhập khoảng 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng/1 tháng, Bà L thuê nhà ở cùng các con cuộc sống ổn định, Bà L cam kết sau khi ly hôn một mình bà có thể chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt cho các con chung. Căn cứ hợp đồng thuê nhà do Bà L cung cấp có cơ sở xác định bà có chỗ ở ổn định. Ông M cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con, để bảo đảm về điều kiện nuôi dưỡng, sự phát triển bình thường về tâm sinh lý và quyền lợi về mọi mặt của trẻ Quang Phúc và phù hợp với nguyện vọng của trẻ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
- Về tài sản chung: Bà L xác nhận không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Bà L xác nhận không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần T T L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
- Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần T T L đối với bị đơn ông Nguyễn C M:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần T T L được ly hôn với ông Nguyễn C M.
- Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Trần Q P, sinh ngày 02/11/2010 cho bà Trần T T L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn. Ghi nhận ý kiến của bà Trần T T L không yêu cầu ông Nguyễn C M cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Trần T T L xác nhận không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Bà Trần T T L xác nhận không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần T T L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0024161 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; Bà Trần T T L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hương |
Bản án số 1298/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1298/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án HNGĐ sơ thẩm
