|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1295/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 9 - 2024 V/v tranh chấp Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Mai Lan.
2. Bà Võ Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Hương Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 729/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 459/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 435/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Nguyễn Thùy T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Căn hộ B, chung cư B, số C đường N, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Bạch L, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số G đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Nguyễn Thùy T trình bày:
Bà và ông Huỳnh Bạch L tự nguyện quen biết, tìm hiểu, yêu thương nhau, rồi tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 77/2019 ngày 01/4/2019. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nên cả hai đã sống ly thân. Hai vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn và quay về sống chung để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt, nên bà yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Bạch L để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Huỳnh Bạch L trình bày (Theo bản tự khai ngày 02/7/2024 và các Biên bản hòa giải ngày 02/7/2024, ngày 12/7/2024):
Ông và bà T có quen biết tìm hiểu và yêu thương nhau thì tự nguyên tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 77/2019 ngày 01 tháng 4 năm 2019.
Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bà T chê ông có thu nhập thấp. Ngoài ra, do ông bà có áp lực về kinh tế nên vợ chồng có tranh cãi, ông bà thỏa thuận là bà T là người ra ngoài kiếm thu nhập chính, ông là người làm giờ hành chính nhưng mọi việc vẫn diễn ra bình thường cho đến tháng 3/2024 thì bà T làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với những lý do như bà T trình bày. Ông bà ly thân từ tháng 5/2024 cho đến nay. Từ khi biết bà T nộp đơn ly hôn thì ông có nói chuyện với bà T để giải quyết mâu thuẫn nhưng bà T không đồng ý. Nay ông còn tình cảm với bà T nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên toà sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Phan Nguyễn Thùy T yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Bạch L nên quan hệ giải quyết trong vụ án là tranh chấp ly hôn, ông Huỳnh Bạch L hiện đang cư ngụ tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Huỳnh Bạch L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Bạch L.
[3]. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Phan Nguyễn Thùy T và ông Huỳnh Bạch L là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 77/2019 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01 tháng 4 năm 2019 .
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Bà Phan Nguyễn Thùy T trình bày giữa bà và ông Huỳnh Bạch L bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Bà và ông Huỳnh Bạch L đã nhiều lần hàn gắn để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả.
Ông Huỳnh Bạch L trình bày, ông và bà T có xảy ra mâu thuẫn do có áp lực về kinh tế, bà T chê ông có thu nhập thấp nhưng mọi việc vẫn xảy ra bình thường nên ông không đồng ý ly hôn.
Quá trình giải quyết tại Tòa, Tòa án đã tạo điều kiện cho các bên hòa giải nhiều lần nhằm hàn gắn quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên, sau buổi hòa giải lần đầu vào ngày 02/7/2024 thì ngày 12/7/2024, Tòa án tiến hành hòa giải lần hai, nhưng các đương sự trình bày sau buổi hòa giải ngày 02/7/2024 cho đến ngày hòa giải lần hai thì hai bên vẫn không nói chuyện. Ông L trình bày, theo ông được biết thì bà T đang bị áp lực về công việc nên dù ông có nói chuyện với bà T thì vẫn không giải quyết được vấn đề nên ông không nói chuyện với bà T. Tòa án tiếp tục mời các bên lên hòa giải lần ba vào ngày 18/7/2024 nhưng ông L không đến Tòa mặc dù được tống đạt trực tiếp Giấy triệu tập và Thông báo hòa giải.
Như vậy, thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Nguyễn Thùy T và ông Huỳnh Bạch L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về phía ông Huỳnh Bạch L đã được Tòa án triệu tập tham gia các phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà Phan Nguyễn Thùy T và ông Huỳnh Bạch L hàn gắn đoàn tụ, nhưng ông Huỳnh Bạch L vẫn không có mặt, không có hành động để hàn gắn quan hệ vợ chồng, như vậy thể hiện ông Huỳnh Bạch L không có thiện chí giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà Phan Nguyễn Thùy T và ông Huỳnh Bạch L là có thật, đã trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Nguyễn Thùy T theo quy định tại Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Nguyễn Thùy T và ông Huỳnh Bạch L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Nguyễn Thùy T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí, lệ phí và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Nguyễn Thùy T được ly hôn với ông Huỳnh Bạch L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 77/2019 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01 tháng 4 năm 2019 cho ông Huỳnh Bạch L và bà Phan Nguyễn Thùy T không còn hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phan Nguyễn Thùy T và ông Huỳnh Bạch L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phan Nguyễn Thùy T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do bà Phan Nguyễn Thùy T đã nộp theo biên lai thu số 0013930 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phan Nguyễn Thùy T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Phan Nguyễn Thùy T có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Bạch L vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Loan |
Bản án số 1295/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1295/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
