Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1291/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-9-2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Võ Phương Trang;
  • 2/ Bà Đinh Thị Hồng Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Hương - Là thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1134/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 528/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 417/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lưu T L, sinh năm: 19xx (Xin vắng mặt).
    Địa chỉ: Đường số A, khu phố j, phường B, quận B, Thành phố H.
  2. Bị đơn: Ông Trịnh V T, sinh năm: 1970 (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Đường số A, khu phố j, phường B, quận B, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp cho Tòa án và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Bà Lưu T L trình bày:

Bà và Ông Trịnh V T có thời gian quen biết và tự nguyện tìm hiểu nhau. Đến năm 1992, cả hai tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh H (nay là xã C, huyện G, tỉnh B) theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/4/1992. Bà và Ông Trịnh V T chung sống hạnh phúc đến năm 19xx thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, ông T không lo làm ăn, có tính gia trưởng, thậm chí ông T còn có hành vi bạo hành đối với bà, từ đó dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn. Vì con bà đã nhiều lần khuyên nhủ, tha thứ cho ông T nhưng ông T không sửa đổi. Do tình cảm không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với Ông Trịnh V T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và Ông Trịnh V T có 02 (hai) con chung tên Trịnh V H, sinh ngày 23/3/19xx (đã thành niên) và Trịnh T V, sinh ngày 12/12/2007. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi Trịnh T V, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là Ông Trịnh V T: Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng Ông Trịnh V T vắng mặt không có lý do và cũng không gửi ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà L.

Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân của Ông Trịnh V T và Bà Lưu T L tại địa phương thì địa phương cho biết chưa nhận được yêu cầu hòa giải mâu thuẫn tranh chấp giữa Ông Trịnh V T và Bà Lưu T L.

Tại phiên tòa: Bà Lưu T L có đơn xin vắng mặt; Ông Trịnh V T vắng mặt không lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, thực hiện đúng trình tự tố tụng.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu T L và Ông Trịnh V T chung sống có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của bà L, ông T là hợp pháp. Quá trình chung sống bà L và ông T luôn bất đồng quan điểm dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Bà Lưu T L về việc xin ly hôn với Ông Trịnh V T; Về con chung: Bà Lưu T L và Ông Trịnh V T có 02 (hai) con chung tên Trịnh V H, sinh ngày 23/3/19xx (đã thành niên) và Trịnh T V, sinh ngày 12/12/20xx. Do ông T không đến Tòa cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con, bà L có ý kiến mong muốn được nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giao trẻ Trịnh T V cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng. Đề nghị ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: bà L không yêu cầu, ông T không có mặt, không có ý kiến gì nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lưu T L và Ông Trịnh V T có đăng ký kết hôn, Bà Lưu T L yêu cầu ly hôn. Tại thời điểm khởi kiện Ông Trịnh V T cư trú tại quận Bình Tân nên đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Ông Trịnh V T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do; Nguyên đơn Bà Lưu T L có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Trích lục kết hôn số 359/TLKH-BS ngày 22/6/2023 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh B cấp và lời khai của nguyên đơn có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà L và ông T là hợp pháp.

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu T L và Ông Trịnh V T tự nguyện kết hôn từ năm 1992 và đã có 02 con chung. Theo bà L trình bày thì bà và ông Thủ luôn bất đồng quan điểm sống, ông T không lo làm ăn, có tính gia trưởng, thậm chí ông T còn có hành vi bạo hành đối với bà. Vì con bà đã nhiều lần khuyên nhủ, tha thứ nhưng ông T không sửa đổi. Đến nay tình cảm không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với Ông Trịnh V T để ổn định cuộc sống.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng Ông Trịnh V T vắng mặt không có lý do trong tất cả các buổi làm việc, hòa giải xét xử vụ án và cũng không gửi đến Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà L. Tại tất cả những buổi làm việc do Tòa án tiến hành bà L vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông Thủ. Cho thấy, mâu thuẫn giữa ông T và bà L là trầm trọng, ông T không còn quan tâm đến bà L cũng như không quan tâm đến cuộc hôn nhân của ông bà.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình là “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau”. Ông T không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ bà L trong việc xây dựng gia đình là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, làm cho hôn nhân của ông và bà L lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Lưu T L đối với Ông Trịnh V T.

[3.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Lưu T L và Ông Trịnh V T có 02 (hai) con chung tên Trịnh V H, sinh ngày 23/3/19xx (đã thành niên) và Trịnh T V, sinh ngày 12/12/2007. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ Trịnh T V, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Trẻ V hiện đang sống với bà L. Ông T không đến Tòa cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con, bà L có ý kiến mong muốn được nuôi con. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà L, giao trẻ Trịnh T V cho Bà Lưu T L được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

[3.3] Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

[3.4] Về nợ chung: Bà L xác định không có nên không xem xét.

[4] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tại phiên tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí sơ thẩm: Bà Lưu T L phải chịu theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 19, Khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Lưu T L về việc xin ly hôn với Ông Trịnh V T.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu T L được ly hôn với Ông Trịnh V T. Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh H(nay là xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) cấp ngày 20/4/1992 không còn giá trị.
    2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

      Bà Lưu T L và Ông Trịnh V T có 02 (hai) con chung tên Trịnh V H, sinh ngày 23/3/19xx và Trịnh T V, sinh ngày 12/12/2007. Trịnh V H đã thành niên nên không xét. Giao trẻ Trịnh T V cho Bà Lưu T L được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của Bà Lưu T L không yêu cầu Ông Trịnh V T cấp dưỡng nuôi con chung.

      Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con Tòa án có thể quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ; thay đổi quyền nuôi con của bà L khi bà L, ông T hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu.

      Bà L có quyền yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014; yêu câu ông T cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

      Bà L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    3. Về tài sản chung: Bà Lưu T L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
    4. Về nợ chung: Bà Lưu T L xác định không có, nên không xét.
  2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) Bà Lưu T L phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà L đã nộp theo biên lai thu số 0026471 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, Bà Lưu T L đã nộp xong án phí sơ thẩm.
  3. Các đương sự thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q.Bình Tân;
  • - Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục THA DS Q.Bình Tân;
  • - Cơ quan đã đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1291/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1291/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger