Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1290/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-9-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Mai Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2/ Bà Võ Thị Thanh Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Nga – Thư ký tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tâm– Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 700/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 491/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 303/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoài P, sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp L, xã M, huyện N, tỉnh Vĩnh Long

Bị đơn: Bà Trần Thị Yến N, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện H, Tp.HCM

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn ông Nguyễn Hoài P trình bày:

Ông Nguyễn Hoài P và bà Trần Thị Yến N tự nguyện chung sống với nhau năm 2007 và có đăng ký kết hôn ngày 16/01/2017 tại UBND xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc. Vào năm 2019, giữa vợ chồng ông phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau. Ông đã góp ý nhiều lần để dung hòa nhưng không được. Hai vợ chồng sống mỗi người một nơi từ đầu năm 2020. Từ lúc ly thân đến nay, bà N là người trực tiếp chăm sóc con. Do công việc của ông là làm thợ xây dựng nên ông không có điều kiện chăm sóc con cái. Trong thời gian ly thân, vợ chồng ông cũng ít quan tâm, hỏi thăm nhau; ông P bà N chỉ liên lạc với nhau, gọi điện thoại cho nhau để hỏi thăm con. Nay ông nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và mỗi người đều có cuộc sống riêng nên ông yêu cầu Tòa án cho ông ly hôn với bà Trần Thị Yến N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoài T, sinh ngày 28/6/2017. Ông yêu cầu bà N trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T. Ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng.

- Về tài sản chung: Ông P tự khai không có.

- Về nợ chung: Ông P tự khai không có.

Bị đơn bà Trần Thị Yến N vắng mặt, không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến, yêu cầu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, hòa giải và thời hạn gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng, những người tham gia tố tụng chấp hành đúng và đầy đủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoài P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn và tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn cư trú tại huyện Hóc Môn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Toà án đã triệu tập, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hoài P và bà Trần Thị Yến N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn. Căn cứ Trích lục kết hôn số 153/TLKH-BS ngày 13/5/2024 do Ủy ban nhân dân xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh cấp thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Phong và bà Nhi là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông P trình bày cuộc sống gia đình ban đầu hạnh phúc nhưng về sau, giữa vợ chồng ông P phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Ông đã góp ý nhiều lần để vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng không được. Hai vợ chồng sống mỗi người một nơi từ đầu năm 2020. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không có qua lại, mỗi người đều có cuộc sống của riêng mình, không ai quan tâm đến ai nữa. Nay ông nhận thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân này nữa, cả hai đã không còn tình cảm với nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng ông P và bà N lại thường xuyên bất đồng quan điểm và không còn chung sống với nhau trong thời gian dài. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng bà N vẫn không đến Tòa án tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa, chứng tỏ bà N không có thiện chí hàn gắn tình cảm, đoàn tụ với ông P. Hiện nay, ông P vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà N. Từ đó, Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân của ông P và bà N đang ở trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xét thấy yêu cầu ly hôn của ông P cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Ông P và bà N có 01 con chung Nguyễn Hoài T, sinh ngày 28/6/2017. Ông P yêu cầu bà N trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T. Hội đồng xét xử nhận định: sau khi ông P và bà N sống ly thân thì bà N là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng trẻ T theo kết quả xác minh của Công an xã Nhị Bình. Bà N không đưa ra ý kiến, yêu cầu gì. Để đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất, tinh thần, sức khỏe của trẻ T, cần giao trẻ T cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận sự tự nguyện của ông P về việc cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng.

[5] Về tài sản chung: Ông P tự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Ông P tự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm liên quan đến việc ly hôn là 300.000 đồng, ông P phải chịu. Án phí dân sự sơ thẩm liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng, ông P phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ điểm a Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Danh mục án phí, lệ phí tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Nguyễn Hoài P được ly hôn với bà Trần Thị Yến N.

2. Về con chung: Ông P và bà N có 01 con chung Nguyễn Hoài T, sinh ngày 28/6/2017. Giao cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T và ông P cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng mỗi tháng, bắt đầu thi hành khi bản án có hiệu lực cho đến khi con chung thành niên.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Trần Thị Yến N cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Hoài P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà người trực tiếp nuôi dưỡng cùng các thành viên gia đình không được cản trở. Ngược lại, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có lý do chính đáng, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được luật định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự tự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hoài P phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm liên quan đến việc ly hôn và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng mà ông P đã nộp theo biên lai số 0024890 ngày 28 thang 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P còn phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H.Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS H.Hóc Môn;
  • - UBND xã Nhị Bình, H.Hóc Môn;
  • - Lưu: hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Quỳnh Mai Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1290/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1290/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Hoài P và bà Trần Thị Yến N tự nguyện chung sống với nhau năm 2007 và có đăng ký kết hôn ngày 16/01/2017 tại UBND xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc. Vào năm 2019, giữa vợ chồng ông phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau. Ông đã góp ý nhiều lần để dung hòa nhưng không được.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger