TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Kim Xuyến
- Bà Dương Thị Bích Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi - Thư ký tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Vân Hoàng Yến – Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 04 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 04 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 26/TB-TA ngày 23/5/2024 đối với bị cáo:
Danh B, sinh năm 2004 tại tỉnh Kiên Giang, Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh M, sinh năm 1984 và bà Thị Kim P. sinh năm 1983 vợ con chưa có; tiền án: tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 16/01/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giữ.
Hiện đang tại ngoại (có mặt).
Người bị hại: Anh Nguyễn Ngọc K; sinh năm 1979
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Danh B hiện là công nhân của Công ty trách nhiệm hữu hạn C thuộc Khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Khi đi chơi chung với nhau nên B nghe được việc anh Nguyễn Trung H có cất tiền để trong thùng nhựa, màu đỏ để cuối hành lang dãy trọ của chị P tại khu phố M, thị trấn H, huyện N nên Bền này sinh ý định trộm cắp số tiền này của anh H để tiêu xài. Đến 17 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, B mượn xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu cam của anh Trần Văn K1 chạy đến dựng trước dãy trọ chị P rồi đi bộ đến cuối dãy hành lang, thấy không có người xung quanh nên B mở thùng nhựa lấy trộm số tiền 6.200.000 đồng của anh H, sau đó điều khiển xe về trả lại cho anh K1, nhờ anh K1 chở về phòng trọ của B nằm nghỉ. Khoảng 19 giờ cùng ngày, B đi bộ đến tiệm điện thoại di động “T” do anh Nguyễn Hữu S làm chủ tại khu phố P, thị trấn H, huyện N, B sử dụng số tiền trộm cắp mua được một điện thoại di động hiệu Iphone XS với giá 4.900.000 đồng, còn lại số tiền 1.300.000 đồng Bền tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện sự việc mất trộm, anh H đến Công an thị trấn H trình báo sự việc. Đến 20 giờ ngày 06/01/2024 B đến Công an thị trấn H đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tình tiết tăng nặng: Không có; Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tang vật vụ án thu giữ gồm:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen do bị can Danh B giao nộp đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hữu S.
- - Số tiền 4.900.000 đồng do anh Nguyễn Hữu S giao nộp; Số tiền 1.300.000 đồng do cha của bị can Danh B là Danh M giao nộp để khắc phục hậu quả đã trả lại cho bị hại là anh Nguyễn Trung H
Tại bản cáo trạng số: 94/CT.VKS-NT ngày 27/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Danh B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i, b khoản 1; 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Danh B từ 08 đến mười tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Về vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen do Danh B giao nộp đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hữu S; Số tiền 4.900.000 đồng do anh Nguyễn Hữu S giao nộp và 1.300.000 đồng do cha của Danh B là Danh M giao nộp để khắc phục hậu quả đã trả lại cho bị hại là anh Nguyễn Trung H.
Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong, bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không giải quyết.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo Danh B không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Danh bền (sinh ngày 09/10/2004) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: lúc 17 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, B điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter đến dãy trọ chị P - thuộc thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, rồi đi bộ đến cuối dãy hành lang, thấy không có người xung quanh nên lén lút mở thùng nhựa lấy trộm số tiền 6.200.000 đồng của anh H, sau đó điều khiển xe về phòng trọ của B nằm nghỉ sau đó tiêu xài cá nhân hết thì bị phát hiện bắt giữ.
Lời thừa nhận của bị cáo B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai nhân chứng; người bị hại và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy bị cáo D bền đã có hành vi lén lút trộm số tiền 6.200.000 đồng mang đi tiêu xài sau đó bị phát hiện bắt giữ và hành vi phạm tội đã thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Danh B đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) có mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Do đó, cáo trạng số: 94/CT.VKS-NT ngày 27/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Danh B là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do Danh B thực hiện là ít nghiêm trọng, hành vi là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Thể hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nên cần xét xử nghiêm.
Tình tiết tăng nặng: Không có; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Danh B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bồi thường khắc phục hậu quả; tự nguyện đầu thú. Do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s, b khoản 1; 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự, nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, hiện bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và việc làm ổn định, trong thời gian tại ngoại chấp hành đúng chính sách, pháp luật không có vi phạm gì, thể hiện việc tự cải tạo bản thân tốt. Do đó không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tính răn đe và giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, để thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong, người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Đối với Nguyễn Hữu S có hành vi bán chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS cho Danh B với giá 4.900.000 đồng nhưng anh S không biết số tiền này do B phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không xử lý đối với anh S là đúng quy định pháp luật.
Đối với Trần Văn K1 cho Danh B mượn xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150, màu cam nhưng anh K1 không biết B dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không thu giữ xe, không xử lý anh K1 là đúng quy định của pháp luật.
[5]. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Danh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, i, b khoản 1; 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Danh B phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Danh B 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, Thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Bị cáo Danh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Nguyên Vũ |
Bản án số 83/2024/TLST-HS ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 83/2024/TLST-HS
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lúc 17 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, Bền điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter đến dãy trọ chị Phương - thuộc thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, rồi đi bộ đến cuối dãy hành lang, thấy không có người xung quanh nên lén lút mở thùng nhựa lấy trộm số tiền 6.200.000 đồng của anh Hiếu, sau đó điều khiển xe về phòng trọ của Bền nằm nghỉ sau đó tiêu xài cá nhân hết thì bị phát hiện bắt giữ. Lời thừa nhận của bị cáo Bền tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai nhân chứng; người bị hại và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy bị cáo Danh bền đã có hành vi lén lút trộm số tiền 6.200.000 đồng mang đi tiêu xài sau đó bị phát hiện bắt giữ và hành vi phạm tội đã thực hiện xong. Nên có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Danh Bền đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) có mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Do đó, cáo trạng số: 94/CT.VKS-NT ngày 27/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Danh Bền là có căn cứ
