Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2023/HS-ST

Ngày 28-12-2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Cương

Bà Ngô Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huấn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2023/HSST-QĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2023/HSST-QĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023; Thông báo mở lại phiên tòa số 35/TB-TA ngày 21/12/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giáp Văn V; Sinh năm 1963; Tên gọi khác: Không có;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Văn hóa: 05/10; Họ và tên bố: Giáp Văn S (đã chết); Họ và tên mẹ: Ngô Thị Q (đã chết); Gia đình có 6 anh em, bản thân là thứ hai; Họ tên vợ: Đỗ Thị K, sinh năm 1966; Bị cáo có 05 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” có mặt tại phiên tòa.

Đại diện giám hộ cho bị cáo: Bà Đỗ Thị K, sinh năm 1966 ( có mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn B- Văn phòng luật sư Phạm Xuân A- Đoàn luật sư tỉnh B ( có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Ồ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị hại: Ông Giáp Văn T, sinh năm năm 1951 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Hoàng Văn Q1 và ông Nguyễn Khắc N- Công ty L3- Đoàn luật sư thành phố H (vắng mặt).

Địa chỉ trụ sở chính: Tổ A, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Văn phòng giao dịch: Tầng 4, số A phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Giáp Văn H, sinh năm 2004(vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Thôn Hậu, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

  3. Đồng Thị L, sinh năm 1965(vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Người làm chứng:

  1. Giáp Thị B1, sinh năm 1975(vắng mặt)
  2. Chị Trần Thị T1, sinh năm 1998(vắng mặt)
  3. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1963(vắng mặt)
  4. Anh Vũ Văn Đ (L1), sinh năm 1972(vắng mặt)
  5. Cùng địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

  6. Anh Vũ Văn D, sinh năm 1978(vắng mặt)
  7. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 07/4/2023, Giáp Văn V, sinh năm 1963, trú tại thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang có biểu hiện bị bệnh tâm thần nên được gia đình đưa đến điều trị tại Bệnh viện tâm thần tỉnh B. Ngày 10/5/2023, V bị mắc bệnh Covid nên được Bệnh viện cho về điều trị Covid tại nhà.

Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 15/5/2023, V cầm một con dao bằng kim loại, phần mũi bằng, có một phần lưỡi sắc dài 42,9 cm, phần chuôi dao dạng hình trụ tròn bằng kim loại dài 10,9 cm, phần lưỡi dao dài 31 cm, bản rộng 06cm đi từ nhà ra phát cây, cỏ dại ở đoạn đường trước cửa nhà mình. Khi V đi ra đường thì gặp ông Giáp Văn T, sinh năm 1951 ở cùng thôn đi đến. Lúc này, V cho rằng ông T nhổ nước bọt xúc phạm mình nên đã cầm con dao ở tay phải chém về phía ông T nhưng không trúng. Bị V cầm dao chém, ông T bỏ chạy về phía trước một đoạn khoảng 40m thì thấy bà Giáp Thị B1, sinh năm 1975, trú tại thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang mở cổng, nên ông T chạy vào trong cổng nhà bà B1. Tại đây,

ông T nói với bà B1: “Tôi chạy nhờ vào đây, ông V cầm dao đuổi đánh tôi”, bà B1 nói: “T3 để cháu mở cổng sau chạy qua vườn ra đường cho ông”, rồi bà B1 chạy ra mở cổng sau vườn nhà cho ông T chạy. Sau khi bà B1 mở cửa vườn, ông T không chạy theo hướng bà B1 chỉ mà nói với bà B1: “Cho tôi mượn chiếc đòn gánh” thì bà B1 trả lời là không có, nên ông T cầm một chiếc chổi lúa có cán bằng inox đi ra phía cổng chính. Khi ông T cầm chiếc cán chổi đi ra đến cổng thì cũng là lúc V cầm con dao đi đến. Thấy vậy, bà B1 thấy vậy hô lên “Ông chạy đi, cháu mở lối cho ông rồi, ông chạy ra ngoài sau đi, đừng đánh nhau ở nhà cháu”, nhưng ông T vẫn không nghe mà tiếp tục tiến về phía cổng chính để giữ cổng không cho V đi vào. Lúc này V cầm dao chém liên tiếp 2-3 cái vào cổng nhà bà B1, trong đó có một nhát trúng ngón tay cái và ngón tay trỏ bàn trái của ông T. Sau khi bị chém trúng tay, ông T bỏ tay ra khỏi cổng thì V đẩy cổng đi vào cầm dao khua khoắng chém về phía ông T nhưng không trúng. Ông T lao vào vật V xuống đất rồi dùng tay giữ tay cầm dao của Vuông ở tư thế nằm đè lên người Vuông. Trong lúc giằng co, V cầm dao khua khoắng chém về phía sau thì cứa vào cổ chân phải của ông T, rồi hai người tiếp tục giằng co giữ dao thì V cứa dao vào gối trái của mình. Ông T tiếp tục đè lên người Vuông dùng hai tay giữ chặt dao để V không khua khoắng nữa rồi gọi mọi người đến để can ngăn. Lúc này, ông Vũ Văn Đ (tên gọi khác Vũ Văn L2), sinh năm 1972, trú tại thôn H, xã Đ, huyện L đi đến tước con dao từ tay của V rồi can ngăn hai người ra.

Sau khi bị gây thương tích, ông T được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh B từ 15/5/2023 đến 22/05/2023, với thương tích: Đau đầu, choáng váng. Sưng tím vùng đầu, cánh tay phải. Đau chảy máu, mất vận động ngón chân cái bàn chân phải, cổ chân phải, xây sát nhiều vùng cơ thể. X-quang: Đường gãy 1/3 dưới xương chày phải.

Ngày 29/5/2023, ông Giáp Văn T có đơn đề nghị Công an xã ĐCông an huyện L xử lý Giáp Văn V về hành vi “Cố ý gây thương tích”

Ngày 15/5/2023, Công an xã Đ đã tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc là tại nhà bà Giáp Thị B1, sinh năm 1975 ở thôn H, xã Đ, huyện L, kết quả: Thu giữ tại vườn nhà Vuông 01 con dao bằng kim loại mũi bằng, có một lưỡi sắc dài 42,9cm; phần chuôi dạng hình trụ tròn bằng kim loại dài 10,9cm, phần lưỡi dài 31cm, bản rộng 06cm; thu giữ tại đường bê tông sắt mặt phía Nam cột cổng phía Nam nhà bà B1 01 chiếc chổi lúa có cán bằng kim loại hình trụ tròn sáng màu, trên cán chổi và chổi bám dính chất màu nâu đỏ nghi là máu đã khô.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra; nhận dạng vật gây thương tích, kết quả xác định: Vuông nhận dạng được con dao đã gây thương tích cho ông T. Với tư thế động tác V dùng dao chém vào cánh cổng phía Nam, không tạo ra được các vết thương trên cơ thể ông T. Với tư thế động tác ông T dùng gậy đánh vào gối phải Vuông có thể tạo nên vết thương sưng nề ở gối phải ông V. Với tư thế động tác V nằm nghiêng trái, ông T ngồi trên hông phải V, V thực hiện động tác dùng tay phải cầm con dao chém về phía sau có thể gây

được thương tích ở cổ chân phải ông T và có thể gây được thương tích ở gối trái Vuông. Quá trình vật lộn giữa V và ông T có thể tạo nên các vết thương ở trên hai bàn tay của ông T. Với tư thế, động tác ông T trình bày bị V dùng dao chém vào cổng khi ông T đang giữ tay ở cổng có thể gây ra thương tích ở tay trái cho ông T. Với tư thế nằm úp vật lộn V dùng dao ngoắc sang hai bên có thể gây ra thương tích ở vai trái và vai phải cho ông T.

Ngày 02/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện L tiến hành trưng cầu giám định đến Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B để xác định tỷ lệ thương tích; vật gây thương tích; cơ chế hình thành thương tích trên cơ thể ông Giáp Văn T.

Tại bản kết luận giảm định tổn thương cơ thể trên người sống số: 1465/23/KLTTCT-TTPY ngày 09/6/2023 của Trung tâm pháp y – Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận: “1. Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích vết sẹo kích thước nhỏ cung mày trái: 3%; Thương tích vết sẹo kích thước trung bình vùng vai phải: 2%; Chạm thương vùng đầu không còn dấu vết: 0%; Thương tích vết sẹo kích thước nhỏ ô mô ngón I bàn tay trái:1%; Thương tích vết sẹo kích thước nhỏ ngón II bàn tay trái:1%; Thương tích vết thương đóng vảy khô đang liền sẹo kích thước nhỏ mu bàn tay phải: 1%; Thương tích vết sẹo kích thước trung bình cổ chân phải + Vết sẹo mổ kích thước nhỏ cổ chân phải + Kiểm tra vết thương cổ chân phải ~5x1cm, bờ sắc gọn, mẻ xương chày lộ gân đứt gân chày trước + Xquang: Hình ảnh mẻ 1/3 dưới xương chày phải: 6%.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Giáp Văn T tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác: Cơ chế, chiều hướng hình thành thương tích: Các thương tích: Chạm thương vùng đầu không còn dấu vết; Vết sẹo cung mày trái; Vết sẹo vai phải; Vết sẹo ô mô ngón I bàn tày trái; Vết sẹo ngón II bàn tay trái; Vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo mu bàn tay phải không xác định được cơ chế và chiều hướng gây thương tích; Thương tích vết sẹo cổ chân phải do vật sắc gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích”.

Tại bản kết luận giám định vật gây thương tích số: 1465B/23/KLVGTT-TTPY ngày 14/6/2023 của Trung tâm pháp y – Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận: “1. Kết quả chính: Kết quả nghiên cứu mẫu vật: Con dao bằng kim loại mũi bằng, có một lưỡi sắc dài 42,9cm, phần chuôi dao dạng hình trụ tròn bằng kim loại dài 10,9 cm, phần lưỡi dài 31 cm, bản rộng 06 cm gây được thương tích; Kết quả đối chiếu các mẫu vật với thương tích: Con dao gửi giám định gây được thương tích ở vị trí cổ chân phải.

2. Kết luận: Căn cứ kết quả các vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến phù hợp với đặc điểm của tổn thương, xác định: Con dao gửi

giám định là vật gây ra được thương tích ở vị trí cổ chân phải cho Giáp Văn T. Không xác định được con dao gửi giám định có gây được các thương tích còn lại hay không”.

Ngày 29/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện L tiến hành trưng cầu giám định đến V1 để tiến hành giám định ADN (Gen):

Tại kết luận giám định ADN số HT.286.23/PY-XNSH ngày 05/6/2023 của V1, kết luận: “1. Dấu vết trên bề mặt của 01 (một) con dao (ký hiệu M3); 01 (một) mẫu máu thu ở hiện trường bằng tăm bông (ký hiệu M4); 01 (một) mẫu máu thu ở trên cán chổi, cách đầu cán chổi 20cm bằng tăm bông (ký hiệu M5); 01 (một) mẫu máu thu ở trên cán chổi, cách đầu cán chổi 50cm bằng tăm bông (ký hiệu M6) gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của ông Giáp Văn T (ký hiệu M1).

2. Không phát hiện thấy ADN nhiễm sắc thể thường của ông Giáp Văn V (ký hiệu M2) trên các mẫu vật (ký hiệu: M3, M4, M5, M6) gửi giám định”.

Ngày 11/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện L tiến hành trưng cầu giám định bổ sung đến Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B để xác định cơ chế hình thành dấu vết đối với thương tích 3% ở cung mày trái ông Giáp Văn T.

Tại kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 1612/23/KLBSHS-PY ngày 17/8/2023 kết luận: Tình huống thực nghiệm điều tra theo lời khai của ông Giáp Văn T gây được các thương tích: Vết sẹp ô mô ngón I bàn tay trái; Vết sẹp ngón II bàn tay trái; Vết sẹo vai phải. Không xác định được có gây ra được các thương tích: Vết sẹp trên cung mày trái; Vết thương đóng vảy khô đang liền sẹo mu bàn tay phải; Vết sẹo cổ chân phải và chạm thương vùng đầu hay không. Tình huống thực nghiệm điều tra theo lời khai của ông G văn Vuông gây được thương tích: Vết sẹo cổ chân phải. Không xác định được có gây ra được các thương tích: Vết sẹo cung mày trái; Vết sẹo ô mô ngón I bàn tay trái; Vết sẹo ngón II bàn tay trái; Vết sẹo vai phải; Vết thương đóng vảy khô đang liền sẹo mu bàn tay phải và chạm thương vùng đầu hay không. Không xác định được cơ chế, chiều hướng, vật gây nên thương tích vết sẹo nhỏ cung mày trái 3% của ông Giáp Văn T. Theo biên bản ghi lời khai của ông Giáp Văn T ngày 19/7/2023 gây được thương tích vết sẹo nhỏ cung mày trái 3%”.

Ngày 21/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện L tiến hành trưng cầu giám định Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc để xác định Giáp Văn V có bị tâm thần hay không.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 123/KLGÐ ngày 18/8/2023 kết luận:

“1.Giáp Văn V, sinh năm 1963 trú tại thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang bị bệnh Mất trí không biệt định, bệnh có mã F03 (Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi).

2.Tại thời điểm thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích” vào ngày 15/5/2023, Giáp Văn V bị bệnh Mất trí không biệt định, mức độ nhẹ. Giáp Văn V hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

3.Hiện tại (thời điểm giám định) Giáp Văn V bị bệnh Mất trí không biệt định, mức độ nhẹ. Giáp Văn V hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi".

Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nêu ở trên.

Cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Giáp Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát rút một phần quan điểm truy tố về việc đề nghị không áp dụng tình tiết có tính chất côn đồ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Giáp Văn V từ 02 ( hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 ( hai) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Giáp Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời trình bày của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang về tội danh, đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt đối với bị cáo từ 02 ( hai) năm đến 02 năm ( hai) năm 03 ( ba) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 04 ( bốn) năm đến 04 ( bốn) năm 06 ( sáu) tháng; về vấn đề bồi thường thiệt hại đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện giám hộ cho bị cáo, Luật sư, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với đơn đề nghị hoãn phiên tòa của Luật sư Nguyễn Khắc N là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại ông Giáp Văn T với lý do tại phiên tòa ngày 24/11/2023 bị cáo V có biểu hiện sức khỏe không đảm bảo nghi ngờ bị cáo mất năng lực hành vi dân sự, đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa và ra Quyết định trưng cầu giám định lại tình trạng bệnh lý của bị cáo V để việc xét xử vụ án đảm bảo quy định của pháp luật. HĐXX xét thấy tại phiên tòa bị cáo V minh mẫn, tỉnh táo có thể tự mình trả lời tất cả các câu hỏi của HĐXX, bản thân bị cáo trình bày đảm bảo sức khỏe cho việc xét xử và đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Người đại diện giám hộ cho bị cáo bà Đỗ Thị K và Luật sư bào chữa cho bị cáo ông Phạm Văn B, đại diện VKS đều có ý kiến đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Do vậy HĐXX quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là đúng quy định của BLTTHS.

Đối với bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đây là phiên tòa mở lại lần thứ ba nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của những người vắng mặt trong quá trình điều tra tại phiên tòa.

[2] Về những chứng cứ xác định hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị hại, người làm chứng phù hợp với tang vật thu giữ được về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và kết luận giám định thương tích, các tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 15/5/2023 tại khu vực đường thôn và cổng chính nhà gia đình bà Giáp Thị B1, sinh năm 1975, ở thôn H, xã Đ, huyện L, do mâu thuẫn Giáp Văn V đã có hành vi dùng một con dao bằng kim loại, phần mũi bằng, có một phần lưỡi sắc dài 42,9 cm, phần chuôi dao dạng hình trụ tròn bằng kim loại dài 10,9 cm, phần lưỡi dao dài 31 cm, bản rộng 06cm tấn công ông Giáp Văn T. Trong quá trình đuổi đánh, giằng co V đã dùng dao gây thương tích cho ông T

tại các vị trí: Cung mày trái, vai phải, ngón tay trái, mu bàn tay phải và cổ chân phải với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định là 13% (Mười ba phần trăm).

Hành vi của Giáp Văn V dùng dao tấn công ông Giáp Văn T làm ông T bị thương tích với tổng tỷ lệ thương tích tổn thương cơ thể là 13% đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, nhưng bị cáo bị bệnh bị hạn chế năng khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, tội và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện nộp số tiền 15.000.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang để bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. HĐXX xét thấy tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

[4] Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án:

Đối với lời khai của Giáp Văn V trình bày về việc bị ông T dùng chổi cán bằng kim loại đánh vào gối phải gây thương tích nhưng ông T không thừa nhận. Ngoài lời khai của V không còn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh. Mặt khác, bị cáo V khai chỉ bị thương tích nhẹ, không yêu cầu giải quyết và từ chối giám định nên không có căn cứ để xử lý đối với ông T về hành vi này. HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối lời khai của ông Giáp Văn T về việc V núp ở bờ tường chém gây thương tích trước khi ông T chạy vào nhà chị B1. Kết quả điều tra xác định, những người làm chứng là Giáp Thị B1, Trần Thị T1 và anh Vũ Văn Đ đều xác định tại thời điểm

ông T chạy vào nhà bà B1 trên mặt ông T không có thương tích. Do vậy, việc ông T cho rằng bị V chém gây thương tích tại thời điểm nêu trên là không có căn cứ, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại ông Giáp Văn T yêu cầu bị cáo phải bồi thường với tổng số tiền là 66.057.686 đồng.

HĐXX xét thấy: Đối với số tiền chi phí khám chữa bệnh là 1.956.676 đồng; tiền chi phí chụp hình ảnh là 65.400 đồng; tiền mua thuốc là 2.035.610 đồng những khoản tiền yêu cầu bồi thường này của ông T là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Đối với số tiền ông T yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập của người chăm sóc tại bệnh viện là 2.000.000 đồng. HĐXX xét thấy lời khai của bà Đồng Thị L là người trực tiếp chăm sóc cho ông T xác định bà bị mất thu nhập là 1.600.000 đồng. Do vậy chỉ có căn cứ chấp nhận mức bồi thường tiền mất thu nhập của người chăm sóc ông T tại bệnh viện 08 ngày số tiền là 1.600.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với số tiền ông T yêu cầu bồi thường tiền thiệt hại tổn thất tinh thần là 30.000.000 đồng. HĐXX xét thấy số tiền yêu cầu bồi thường của ông T là cao so với quy định của pháp luật mức tối đa theo quy định của pháp luật là 50 tháng lương, nên chỉ có căn cứ buộc bị cáo phải bồi thường số tiền thiệt hại tổn thất tinh thần 13% thương tích bằng 10 tháng lương cơ bản số tiền là 18.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với số tiền ông T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại mất thu nhập trong thời gian 02 tháng là 30.000.000 đồng. HĐXX xét thấy căn cứ ngành nghề đăng ký kinh doanh ông T làm nghề cắt thuốc nam và nắn xương khớp, lượng khách trung bình và thu nhập thực tế không xác định được, vì gia đình ông từ năm 2021 đến nay không đóng thuế thu nhập đối với ngành nghề đăng ký kinh doanh, xác minh đối với phòng khám cùng loại tại địa phương thu nhập trung bình là 10.000.000 đồng/ tháng. Mức yêu cầu bồi thường của ông T là cao so với quy định của pháp luật, căn cứ kết quả xác minh bình quân thu nhập của phòng khám cùng loại tại địa phương thu nhập trung bình là 10.000.000 đồng/ tháng. Tính số ngày ông T nằm viện là 08 ngày và 22 ngày sau khi ra viện. Do vậy chỉ có căn cứ chấp nhận mức bồi thường tiền mất thu nhập của ông T trong thời gian 01 tháng tương ứng với số tiền là 10.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Như vậy tổng số tiền buộc bị cáo phải bồi thường cho ông T là 33.657.700 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền 15.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0000615 ngày 02/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Buộc bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho ông T số tiền là 18.657.700 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 con dao màu đen có chiều dài 43cm, chiều rộng 6cm; 01 chiếc chổi lúa dài 144cm, cán chổi bằng inox bên trong rỗng là

công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nay cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do bị cáo Giáp Văn V là người cao tuổi bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, nên miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, Luật sư, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về ý kiến đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Giáp Văn V phát biểu quan điểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo, phân tích về tình tiết tăng nặng, nhân thân của bị cáo. Luật sư đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của BLHS cho bị cáo là chưa đủ căn cứ vì bị cáo mới chỉ bồi thường khắc phục được một phần hậu quả cho bị hại. Luật sư đề xuất mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo từ 02 ( hai) năm đến 02 năm ( hai) năm 03 ( ba) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 04 ( bốn) năm đến 04 ( bốn) năm 06 ( sáu) tháng là nhẹ chưa phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, nên HĐXX không có căn cứ để chấp nhận.

[10] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề xuất mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Giáp Văn V 02 (hai) năm 03 (ba) tù về tội “Cố ý gây thương tích” thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 2 Điều 586; Điều 590; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Giáp Văn V phải bồi thường cho ông Giáp Văn T tổng số tiền là 33.657.700 đồng ( Ba mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi bẩy nghìn, bẩy trăm đồng). Nhưng được trừ vào số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) đã

nộp theo biên lai thu số 0000615 ngày 02/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Buộc bị cáo Giáp Văn V còn phải bồi thường tiếp số tiền là 18.657.700 đồng ( Mười tám triệu, sáu trăm năm mươi bẩy nghìn, bẩy trăm đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền phải thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao màu đen có chiều dài 43cm, chiều rộng 6cm; 01 chiếc chổi lúa dài 144cm, cán chổi bằng inox bên trong rỗng.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Giáp Văn V.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, đại diện giám hộ cho bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Công an huyện Lạng Giang;
  • - Bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 129/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giáp Văn V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger