|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 129/2024/HS-ST Ngày 25-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Tuấn Sỹ;
Ông Hoàng Mạnh Hải.
Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Trâm, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Văn M, sinh ngày 01 tháng 4 năm 1984 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 28/6/2023; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Y, xã Y, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn S và con bà Lương Thị H (đều đã chết); có vợ là Lương Thị L và 02 con; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự theo Quyết định xử phạt hành chính số 10/QĐ-XPHC ngày 09/5/2024 của Công an thành phố L đã xử phạt Nông Văn M hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 2.500.000đồng, chưa nộp phạt; nhân thân: chưa từng bị kết án, xử lý kỷ luật. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 30/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Khoa T, sinh năm 1966, địa chỉ: số B, đường A, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Trương Văn Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 06 giờ 45 phút ngày 30/6/2024, Nông Văn M là người đang có 01 tiền sự về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa, đi xe đạp điện từ nhà đến khu vực thôn B, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Tại đây, Nông Văn M thấy khu mộ của nhà ông Nguyễn Khoa T đang thi công có vật liệu xây dựng. Quan sát không có người trông coi, Nông Văn M đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Nông Văn M đi bộ lên khu vực nghĩa trang lấy trộm 01 (một) hộp gạch ốp, 01 (một) chiếc nón lá. Trên đường xuống chỗ để xe đạp điện, thấy có dây điện nối từ nhà ông Trương Văn Đ đến khu mộ. Nông Văn M dùng tay phải cầm dao cắt trộm một đoạn dây điện. Sau đó, Nông Văn M để số tài sản trên ở giá để chân của xe đạp điện và điều khiển xe ra hướng Quốc lộ A đi về nhà thì bị ông Trương Văn Đ phát hiện, yêu cầu Nông Văn M trả lại tài sản, Nông Văn M để tài sản vừa trộm cắp được xuống đất rồi điều khiển xe đạp điện bỏ chạy. Sau khi sự việc xảy ra ông Trương Văn Đ và ông Nguyễn Khoa T đã trình báo Công an xã M, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc.
Tang vật, đồ vật thu giữ gồm: 01 (một) kiện gạch nhãn hiệu Gốm đất Việt, bên trong chứa 06 viên gạch ốp lát màu đỏ, kích thước 400 x 400mm, chưa qua sử dụng, 01 (một) đoạn dây điện màu vàng nhãn hiệu CADI-SUM dài 60m được nối với ổ cắm điện màu trắng-đen, nhãn hiệu Vinakip, loại 02 ổ cắm đã qua sử dụng; 01 (một) nón lá màu vàng nhạt, vành nón có đường kính 40 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) con dao dài 35 cm, lưỡi dao dài 25 cm, rộng 7,5 cm, cán dao dài 10 cm, bản rộng 03 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) xe đạp điện nhãn hiệu BEFOREALL, màu trắng – đen, số khung RLHJF6336LZ020118 (đã qua sử dụng).
Tại Cơ quan điều tra, Nông Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và trình bày chiếc xe đạp điện nhãn hiệu BEFOREALL, màu trắng - đen, là của Nông Văn M mua với một người không (không rõ tên tuổi, địa chỉ) tại khu vực thôn B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Khi mua không viết giấy giấy tờ mua bán xe. Kết quả tra cứu chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Đối với con dao, Nông Văn M khai nhận của bản thân mua phục vụ sinh hoạt gia đình.
Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L xác định: 01 (một) kiện gạch nhãn hiệu Gốm đất Việt, bên trong chứa 06 viên gạch ốp lát màu đỏ, kích thước 400 x 400mm, chưa qua sử dụng trị giá 88.000đồng, 01 (một) đoạn dây điện màu vàng nhãn hiệu CADI-SUM dài 60m được nối với ổ cắm điện màu trắng-đen, nhãn hiệu Vinakip, loại 02 ổ cắm đã qua sử dụng trị giá 555.000đồng, 01 (một) nón lá màu vàng nhạt, vành nón có đường kính 40 cm, đã qua sử dụng trị giá 20.000đồng. Tổng giá trị tài sản 663.000đồng.
Ngày 05/7/2024 Cơ quan điều tra trả lại cho ông Nguyễn Khoa T 01 (một) kiện gạch nhãn hiệu Gốm đất Việt, bên trong chứa 06 viên gạch ốp lát màu đỏ, kích thước 400 x 400mm, 01 (một) đoạn dây điện màu vàng nhãn hiệu CADI-SUM dài 60m được nối với ổ cắm điện màu trắng-đen, nhãn hiệu Vinakip, loại 02 ổ cắm và 01 (một) chiếc nón lá màu vàng nhạt, sau khi nhận ông Nguyễn Khoa T không có ý kiến gì.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Khoa T đã nhận được tài sản bị mất nên không có yêu cầu bồi thường.
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn M về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đính chính lại Cáo trạng về nội dung số khung của xe đạp điện, cụ thể tại Cáo trạng ghi là số khung RLHJF6336LZ020118, đính chính lại số khung là RPBVADGBFJVD83849.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Bị hại Nguyễn Khoa Thanh vắng m tại phiên tòa, tuy nhiên tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt bị hại trình bày đã nhận lại được tài sản bao gồm 01 (một) kiện gạch nhãn hiệu Gốm đất Việt, 01 (một) đoạn dây điện màu vàng được nối với ổ cắm điện và 01 (một) nón lá màu vàng nhạt nên không yêu cầu bồi thường và đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội với nội dung giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn M từ 07 tháng đến 09 tháng tù giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 con dao dài 35 cm, lưỡi dao dài 25 cm, rộng 7,5 cm, cán dao dài 10 cm, bản rộng 03 cm, đã qua sử dụng; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe đạp điện nhãn hiệu BEFOREALL, màu trắng - đen, số khung RPBVADGBFJVD83849, đã qua sử dụng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại và người làm chứng nhưng những người vắng mặt đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; xét thấy, việc vắng mặt của bị hại và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 30/6/2024, Nông Văn M đi xe đạp điện lên khu vực mộ tại thôn B, xã M, thành phố L, phát hiện khu mộ của gia đình ông Nguyễn Khoa T đang thi công có vật liệu xây dựng nhưng không ai trông coi, sau khi quan sát không có ai bị cáo Nông Văn M đã lấy 01 hộp gạch ốp, 01 chiếc nón lá và 01 đoạn dây điện với tổng giá trị tài sản là 663.000đồng. Mặc dù giá trị tài sản bị trộm cắp dưới 2.000.000đồng, nhưng bị cáo Nông Văn M đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản vào ngày 09/5/2024, đến nay chưa được xóa mà tiếp tục có hành vi vi phạm như trên, do đó bị cáo Nông Văn M phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đang có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, biết hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, vì vậy cần xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân, bị cáo có nhân thân chưa tốt do đang còn có tiền sự chưa được xoá.
[7] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[8] Về hình phạt bổ sung, theo kết quả xác minh tại nơi cư trú của bị cáo cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và tài sản riêng, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10] Về việc xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại gồm 01 con dao và 01 chiếc xe đạp điện của bị cáo, xét thấy ngày 30/6/2024 bị cáo sử dụng vật chứng trên để hỗ trợ cho việc trộm cắp tài sản, cần tịch thu tiêu huỷ đối với con dao, còn chiếc xe đạp điện do còn giá trị sử dụng nên tịch thu để nộp ngân sách nhà nước.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố L đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 292, 293, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn M 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không xem xét, giải quyết do bị hại không yêu cầu.
4. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao dài 35cm, lưỡi dao dỉ sét dài 25cm, rộng 7,5cm, cán dao dài 10cm, rộng 3cm, đã qua sử dụng;
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe đạp điện nhãn hiệu BEFOREALL, màu trắng-đen, thân vỏ xước sơn, đã qua sử dụng, số khung RPBVADGBFJVD83849.
(Vật chứng được mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn)
5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Phương Thảo |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm, trộm cắp tài sản
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm, Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn M
