Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 129/2024/HS-ST

Ngày 25-09-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà

Các Hội Thẩm nhân dân:

Ông Phạm Anh Tuấn – Bí thư Đoàn phường Văn Đẩu, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

Bà Hoàng Thị Chính – Nguyên Công chức Tư pháp hộ tịch phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2024/TLST-HS ngày 6 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch phiên toà số 73/TB-TA ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Thành D, sinh ngày 21 tháng 7 năm 2007 tại Hải Phòng (khi phạm tội 16 tuổi 08 tháng 09 ngày), nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Tổ I, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn T bà Trịnh Thị T1; chưa vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; tạm giữ từ ngày 8/5/2024, tạm giam ngày 10/5/2024, có mặt.
  2. Phạm Minh C, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2007 tại Hải Phòng (khi phạm tội 17 tuổi 02 tháng 17 ngày), nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Học sinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn S bà Nguyễn Thị N; chưa vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 01/5/2024, tạm giam ngày 10/5/2024, đến ngày 28/6/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, đến ngày 6/9/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
  3. Nguyễn Hồng P, sinh ngày 4 tháng 12 năm 2007 tại Hải Phòng (khi phạm tội 16 tuổi 04 tháng 26 ngày), nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N1 bà Nguyễn Thị L; chưa vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 01/5/2024, đến ngày 10/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
  4. Trần Tuấn H, sinh ngày 26 tháng 11 năm 2006 tại Hải Phòng (khi phạm tội 17 tuổi 05 tháng 4 ngày), nơi ĐKHKTT: Thôn S, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Học sinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn H1 bà Lê Thị H2; chưa vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 01/5/2024, đến ngày 10/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thành D và Phạm Minh C: Bà Nguyễn Thị Bích L1 giúp việc pháp lý, Trung tâm T7, có mặt (vắng mặt khi tuyên án).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hồng P và Trần Tuấn H: Bà Đoàn Thị H3 giúp viên pháp lý, Trung tâm T7, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thành D: Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1982 và bà Trịnh Thị T1, sinh năm 1986; nơi thường trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Tổ I, phường L, quận K, thành phố H có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Minh C: Ông Phạm Văn S1, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; nơi thường trú: Thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, bà N2 mặt, ông S2 mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng P: Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, đều có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Tuấn H: Ông Trần Văn H4, sinh năm 1984 và bà Lê Thị H2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, đều có mặt.

Bị hại: Anh Phạm Văn A ngày 11/12/2006; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Văn H5, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã Q, thành phố Hải Phòng (nơi cư trú của bị cáo Nguyễn Hồng P) vắng mặt.

- Đại diện Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện T (nơi bị cáo Trần Tuấn H học tập), vắng mặt.

- Bà Trần Thị T3 thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường L2, quận K, thành phố Hải Phòng (nơi cư trú của bị cáo Phạm Thành D, vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

- Đại diện Trường THPT N4, huyện T, thành phố Hải Phòng (nơi học tập của bị cáo Phạm Minh C: Bà Đỗ Thị D2 – Hiệu trưởng, vắng mặt (có đề nghị vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 30/4/2024, Phạm Thành D theo 01 con dao quắm đến nhà Phạm Minh C thôn M, xã T, huyện T, thành phố H rủ C đi lượn đường, nếu gặp nhóm thanh niên mâu thuẫn với mình trước đó thì sẽ đánh nhau. C đồng ý. C lấy xe mô tô chở D quán I ở khu H, thị trấn T, huyện T, T này, tại quán internet có Trần Tuấn H Nguyễn H P Phạm Vũ Hải Đ ngày 02/5/2007, trú tại: thôn R, xã Q, huyện T, T Thiên B sinh ngày 14/9/2007, trú tại: thôn A, xã K, huyện T, thành phố H Phòng Nguyễn Văn K sinh ngày 22/6/2007, trú tại khu D, thị trấn T, huyện T, thành phố H Phòng Cao Văn H sinh ngày 26/5/2007, trú tại: thôn P, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng Nguyễn V H sinh ngày 29/10/2007, Phạm Q C sinh ngày 04/10/2007 cùng trú tại thôn N, xã K, huyện T, thành phố H Nguyễn Thành D sinh ngày 24/12/2007, trú tại thôn C, xã Q, huyện T, T mọi người đi “lượn đường”. Cả nhóm đồng ý. Sau đó, H chở K Minh C lấy thêm 01 kiếm, P chở H lấy 01 két vỏ chai thủy tinh. Các đối tượng tập trung tại khu vực trước cổng khu công nghiệp T di chuyển, cụ thể: xe thứ nhất do D khiển chở Minh C (C ngồi sau cầm 01 kiếm, 04 vỏ chai thủy tinh). Xe thứ hai do P khiển chở H (H ngồi sau cầm 01 dao quắm, 03 vỏ chai thủy tinh). Xe thứ ba do H điều khiển chở K (K ngồi sau cầm 02 vỏ chai thủy tinh). Xe thứ tư do Đ khiển chở B (B ngồi sau cầm vỏ chai thủy tinh). Xe thứ năm do H điều khiển chở Q C (Q C ngồi sau cầm vỏ chai thủy tinh) và xe thứ sáu do D điều khiển đi một mình. Cả nhóm di chuyển theo hướng đường Q, M địa bàn xã H, huyện K ba Đ rồi về ngã 5 K Trên đường đi xe của H bị hỏng nên H Quang C D đi về trước. Các đối tượng còn lại tiếp tục di chuyển các xe về hướng đường T, K Trên đường đi gặp trời mưa nên các đối tượng trú mưa tại các nhà dân ven đường. Sau khi trời tạnh mưa, H chở K Đ chở B điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, D chở C P chở H tiếp tục di chuyển về ngã 6 Quán T Trên đường đi, cả nhóm còn lại nhìn thấy Phạm Văn A năm 2006, trú tại tổ H, phường T, quận K, thành phố H khiển xe đạp điện và Vũ Đ T sinh năm 2005, trú tại số A đường T, phường V, quận K, H Phòng điều khiển xe mô tô đi ngược chiều. Cả nhóm thống nhất sẽ đuổi đánh hai người này. D P điều khiển xe quay đầu rồi tăng tốc đuổi theo Văn A T P tiếp tục điều khiển xe phóng lên trước, khi xe P di chuyển ngang hàng với xe của Văn A H ngồi sau cầm chai thủy tinh ném vào người Văn A khiến Văn A rơi chiếc điện thoại Iphone 14 ProMax màu tím xuống đường. Văn A xuống xe, rồi chạy lên vỉa hè. P tiếp tục tăng ga điều khiển xe đuổi theo T T thấy có nhóm đối tượng lạ truy đuổi mình liền tăng ga bỏ chạy về hướng ngã 6 Quán T P điều khiển xe đuổi không kịp nên chở H nhà. Cùng thời điểm này, xe của D C di chuyển đến vị trí xe của Văn A thấy Văn A bỏ chạy lên vỉa hè, D ga đuổi theo xe của P đánh T nhưng không đuổi kịp xe của P nên Minh C D quay xe lại đi về. Trên đường quay lại, ngang qua khu vực xe đạp điện Văn Anh bị đổ ở lòng đường, C nhìn thấy ánh sáng của màn hình điện thoại nên bảo D dừng xe. D dừng xe, C xuống thì thấy có 01 chiếc điện thoại Iphone 14 ProMax màu tím ở cạnh xe của Văn A C nhặt điện thoại lên. Sau đó, D chở C về. C mở điện thoại lên thì thấy màn hình điện thoại đã bị vỡ, khóa màn hình, có mật khẩu bảo mật nên không mở được máy, C cho D rồi cả hai thống nhất sẽ đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. C cầm chiếc điện thoại về nhà cất giấu. Đến sáng ngày 01/5/2024, C và D chiếc điện thoại đến cửa hàng điện thoại Hào V do anh Vũ Văn H năm 1985, trú tại thôn L, xã Đ, huyện T, H chủ bán với giá 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng, cả hai chia nhau mỗi người 750.000 (bảy trăm năm mươi nghìn) đồng rồi chi tiêu cá nhân hết. Khi bán điện thoại, C bày nguồn gốc điện thoại là do cả hai nhặt được ở vũng nước, máy không có thẻ sim, cả hai không nói cho anh H biết đây là tài sản do trộm cắp mà có.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, anh Văn A Công an phường Q, thành phố H báo. Ngày 01/5/2024, Nguyễn Hồng P Trần T H Phạm Minh C và ngày 08/5/2024, Phạm Thành D Công an quận K đầu thú, khai nhận toàn bộ nội dung như đã nêu ở trên.

Ngày 01/5/2024, anh Vũ Văn H nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 14 ProMax cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K phục vụ điều tra.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14 ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận K: “01 chiếc điện thoại Iphone 14 ProMax màu tím: Giá trị tài sản tại thời điểm trước khi bị xâm hại là 16.500.000 đồng. Giá trị tài sản tại thời điểm sau khi bị xâm hại là 7.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 130/CT-VKSKA ngày 6/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Phạm Thành D Phạm Minh C các tội “Gây rối trật tự cộng cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Hồng P Trần Tuấn H tội “Gây rối trật tự cộng cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, việc truy tố xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội. Người đại diện hợp pháp của các bị cáo đều nhất trí với trình bày các bị cáo và không có ý kiến gì.

Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội:

Căn cứ tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, khoản 1 Điều 101, Điều 103, Điều 104 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, khoản 1 Điều 101, Điều 103 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo C

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo PH

Đề nghị xử phạt:

  1. Bị cáo Phạm Thành D 27 - 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, 06 - 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 33 – 39 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù của Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 57 đến 63 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.
  2. Bị cáo Phạm Minh C 21 - 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, 06 - 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là: 27 - 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thửa thách là 54 - 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  3. Bị cáo Nguyễn Hồng P: 24 - 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 – 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  4. Bị cáo Trần Tuấn H: 24 - 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 – 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo D C không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tội Trộm cắp tài sản.

Về bồi thường dân sự: Bị hại là anh Văn A nhận lại điện thoại và các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Văn A tiền 22.000.000đ. Anh Văn A yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Về tiền thu lợi bất chính: Bị cáo D C mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền 750.000đ tiền thu lợi bất chính. Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo có nghĩa vụ nộp thay cho các bị cáo.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo có nghĩa vụ nộp thay cho các bị cáo tiền án phí.

Các Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ân hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Phạm Thành D Phạm Minh C

Nhất trí với tội danh, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Viện kiểm sát áp dụng đối với bị cáo D bị cáo C Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo: Các bị cáo phạm tội do bị lôi kéo, gia đình các bị cáo có sự quản lý các bị cáo chưa chặt chẽ, các bị cáo đều dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo C tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ở tội Trộm cắp tài sản. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo dưới mức Viện kiểm sát đề nghị và cho bị cáo C hưởng án treo.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hồng P Trần Tuấn H

Nhất trí với tội danh, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Viện kiểm sát áp dụng đối với bị cáo P, bị cáo H. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo: Các bị cáo phạm tội đều dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, phạm tội trong khoảng thời gian đêm muộn, đường vắng, trời mưa, phạm tội trong khoảng thời gian nhanh, phạm tội nhưng gây nguy hại không lớn. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo dưới mức Viện kiểm sát đề nghị và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Phạm Văn A vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của bị hại không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại.

- Về nội dung:

[3] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định, và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 30/4/2024, các bị cáo Phạm Thành D, Phạm Minh C, Hồng P Trần T H điều khiển xe mô tô tốc độ cao trên tuyến đường T thuộc địa bàn quận K mang theo dao quắm, kiếm, vỏ chai thủy tinh đuổi và dùng vỏ chai ném người đi đường gây náo loạn, mất trật tự công cộng. Nguyễn Hồng P khiển xe chở Trần Tuấn H đuổi, ném vỏ chai thủy tinh vào anh Phạm Văn A anh Văn A rơi 01 điện thoại Iphone 14 ProMax màu tím xuống lòng đường ở khu vực trước cửa số nhà A đường T, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng. Bị cáo Phạm Thành D, Phạm Minh C không đuổi kịp xe của bị cáo P quay về, khi đi qua trước cửa số nhà A đường T hiện tài sản không có người quản lý nên đã lợi dụng cơ hội lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại nêu trên của anh Văn Anh. Tại thời điểm bị cáo D và C đoạt xác định giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại là 7.000.000 đồng.

Nên đủ cơ sở kết luận, các bị cáo Phạm Thành D Phạm Minh C tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật Hình sự, và tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Hồng P Trần T H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Phạm Thành D Phạm M C Nguyễn Hồng P Trần T H có hành vi điều khiển xe mô tô tốc độ cao trên tuyến đường T thuộc địa bàn quận K mang theo dao quắm, kiếm, vỏ chai thủy tinh đuổi và dùng vỏ chai ném người đi đường gây náo loạn nên bị xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo D C có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại Iphone 14 ProMax của anh Văn A giá tài sản tại thời điểm chiếm đoạt là 7.000.000 đồng nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng đối với tội Gây rối trật tự công cộng, ít nghiêm trọng đối với tội Trộm cắp tài sản, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng, trị an tại địa phương và quyền sở hữu tài sản của công dân, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về vai trò, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với tội Gây rối trật tự công cộng: Bị cáo D là người rủ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp lái xe chở Minh C sau cầm kiếm, vỏ chai thuỷ tinh đi trên các tuyến đường. Bị cáo P cùng xe cầm theo hung khí và là người trực tiếp ném chai thuỷ tinh vào anh Văn A anh Văn A T trên các tuyến đường, các bị cáo đều là những người thực hành tích cực, nên đánh giá vai trò của bị cáo D là cao hơn, bị cáo C P H là như nhau.

Đối với tội Trộm cắp tài sản: Bị cáo C D cùng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, cùng mang điện thoại đi bán, số tiền có được chia đôi cho hai bị cáo nên vai trò hai bị cáo là ngang nhau.

Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội cả bốn bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Văn A điện thoại anh bị hỏng, sau khi phạm tội 4 bị cáo đều ra đầu thú, các bị cáo nhân thân không tiền án, tiền sự (trừ bị cáo D, ông nội bị cáo C người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho 4 bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với 4 bị cáo. Khi phạm tội các bị cáo đều chưa thành niên nên cần xem xét, áp dụng Điều 101, 103 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo D bị xét xử theo Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Toà án nhân dân quận Dương Kinh xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Khi bị cáo bị xét xử theo bản án này bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không tính là tái phạm, nhưng vẫn coi là bị cáo có nhân thân không tốt.

[7] Về hình phạt: Căn cứ nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với tội Gây rối trật tự công cộng: Bị cáo D có vai trò cao hơn các bị cáo, nhân thân không tốt, đã bị xét xử về tội Gây rối trật tự công cộng nay lại tiếp tục phạm tội nên áp dụng mức hình phạt của bị cáo D là cao nhất, sau đó đến mức hình phạt của bị cáo C H P là ngang nhau. Đồng thời khi quyết định hình phạt đối với bị cáo D áp dụng Điều 104 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với hình phạt 24 tháng tù của Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.

Đối với tội “Trộm cắp tài sản” cần áp dụng mức hình phạt của bị cáo C D là ngang nhau.

Xét các bị cáo C H P phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và từ khai thực hiện hành vi phạm tội đến nay các bị cáo không có sai phạm gì, bản thân các bị cáo tuổi còn nhỏ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo C H còn đang đi học nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khởi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự là tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo C H P.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo D C ở tội Trộm cắp tài sản.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt, đã nhận được 22.000.000đ gia đình 4 bị cáo bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về thu lợi bất chính:

Các bị cáo D C sau khi chiếm đoạt được điện thoại của bị hại đã đem bán được 1.500.000đ, mỗi bị cáo được 750.000đ và đã chi tiêu cá nhân. Đây là tiền thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có nên các bị cáo phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền này. Người đại diện hợp pháp của các bị cáo có trách nhiệm nộp thay cho các bị cáo.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Người đại diện hợp pháp của các bị cáo có trách nhiệm nộp thay cho các bị cáo.

Các Bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[11] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi của các đối tượng Phạm Vũ H Đ Nguyễn T B C Nguyễn Thành D chưa đủ cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K có văn bản gửi chính quyền địa phương nơi các đối tượng sinh sống để theo dõi, quản lý, giáo dục.

Đối với anh Vũ Văn H người đã mua lại chiếc điện thoại do bị cáo D C trộm cắp nhưng anh H không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, không có yêu cầu bồi hoàn lại số tiền đã mua điện thoại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi các đối tượng di chuyển qua địa bàn huyện K, T quan Cảnh sát điều tra Công an quận K thông báo nội dung vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, trong thời gian khoảng thời gian nêu trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiếp nhận, giải quyết vụ án, vụ việc nào có nội dung như đã nêu trên nên chưa có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, khoản 1 Điều 101, Điều 103, Điều 104 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thành D

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, khoản 1 Điều 101, Điều 103 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Minh C

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hồng P Trần T H

1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Thành D Phạm Minh C các tội Gây rối trật tự cộng cộng và tội Trộm cắp tài sản.

Các bị cáo Nguyễn Hồng P Trần Tuấn H phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt:

  1. Bị cáo Phạm Thành D: 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự cộng cộng”, 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là: 33 (Ba mươi ba) tháng tù.

    Tổng hợp với hình phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù của Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 57 (Năm mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 8/5/2024.

  2. Bị cáo Phạm Minh C (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Gây rối trật tự cộng cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thửa thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  3. Bị cáo Trần Tuấn H: 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thửa thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Phạm Minh C Trần T H cho UBND xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

  4. Bị cáo Nguyễn Hồng P (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thửa thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Hồng P cho UBND xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

    “1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

    2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

    3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

    4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.

2. Về tiền thu lợi bất chính:

Bị cáo Phạm Thành D Phạm Minh C bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Người đại diện hợp pháp của các bị cáo có nghĩa vụ nộp thay cho các bị cáo tiền thu lợi bất chính.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của các bị cáo có nghĩa vụ nộp thay cho các bị cáo tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Kiến An;
  • - Chi Cục THA dân sự quận Kiến An;
  • - VKS NDTP. Hải Phòng;
  • - Toà án nhân dân TP.Hải Phòng;
  • - PV06 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan THA hình sự CA quận Kiến An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - UBND cấp xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự (gây rối trật tự công cộng và trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 129/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Gây rối trật tự công cộng và Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 02 tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger