Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 129/2024/HS-ST

Ngày 25 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vân Văn Kiều;
  2. Ông Đèo Văn Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Sùng A D, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/01/1982, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản C, xã T, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Sùng A Q, đã chết; mẹ đẻ: Vàng Thị M, đã chết; vợ: Giàng Thị P, sinh năm 1982; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 23/7/2004, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L ra Quyết định số: 561/QĐ-UB về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với Sùng A D trong thời hạn 24 tháng, ngày 27/5/2006, Sùng A D chấp hành xong. Ngày 19/4/2010, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L ra quyết định số 472/QĐ-UBND, về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với Sùng A D thời hạn 24 tháng, ngày 26/02/2012 Sùng A D chấp hành xong. Hiện Sùng A D đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính đối với 02 quyết định trên. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024 đến nay, có mặt.

  2. Họ và tên: Sùng Thị C, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/12/1982, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Sùng A D, sinh năm 1982; mẹ đẻ: Giàng Thị P, sinh năm 1982; chồng: Trù A T, sinh năm 1995; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/5/2024 đến ngày 12/5/2024 (09 ngày), hiện đang bị áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

  3. Họ và tên: Sùng Thị P1, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/12/1952, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Sùng A P2, đã chết; mẹ đẻ: Thào Thị C1, đã chết; chồng: Trù A S, sinh năm 1951; bị cáo có 07 con, con lớn nhất sinh năm 1978, con nhỏ nhất sinh năm 1998 (02 người con của bị cáo đã chết); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/5/2024 đến ngày 12/5/2024 (09 ngày), hiện đang bị áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Người phiên dịch cho các bị cáo: Anh Vàng A C2, sinh năm 1990, địa chỉ: Bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Thị L, là Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.

Những người làm chứng:

Anh Sùng A T1, sinh năm 2005, địa chỉ: Bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

Anh Trù A T2, sinh năm 1995, địa chỉ: Bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ giữa năm 2022, Sùng A D đi làm thuê tại xã H, huyện N, tỉnh Lai Châu. D được những người đã thuê D (không rõ lai lịch) trả công bằng Heroine. Mỗi lần nhận Heroine, D sử dụng một ít, phần còn lại D để trong lọ nhựa màu đỏ để sử dụng dần và bán kiếm lời. Ngày 30/4/2024, D cầm theo H đi từ xã H, huyện N về nhà con gái là Sùng Thị C thăm gia đình, D cất giấu lọ nhựa đựng các cục Heroine trong túi áo khác của Duy treo trong bếp nhà C, không cho ai biết.

Khoảng 09 giờ, ngày 02/5/2024, D đang ở nhà C thì Sùng Thị P1, là mẹ chồng của C, đến gặp D hỏi xin Heroine để chữa đau bụng. D đưa cho P1 04 cục H1, D bảo P1 bán hộ 03 cục với giá 50.000 đồng/cục, còn 01 cục là để trả công. Lúc này, C đang ở trên phòng khách nên không biết việc trao đổi giữa DP1. Khoảng 10 giờ cùng ngày, D lấy từ trong lọ nhựa khoảng 08 cục Heroine, gói bên ngoài bằng một mảnh nilon màu xanh và một mảnh nilon màu đen đưa cho C. D bảo C nếu có ai hỏi mua thì bán giá 50.000 đồng/cục, giờ cùng ngày, D đi chợ về, C lấy số tiền 50.000 đồng đưa cho D và nói đây là tiền bán Heroine mà có.

Đối với Sùng Thị P1, sau khi nhận 04 cục Heroine của Sùng A D, P1 mang về nhà sử dụng hết 01 cục; 03 cục còn lại P1 dùng mảnh nilon màu hồng gói thành 03 gói, cất giấu trên thanh tre xà ngang cửa chính nhà P1. Khoảng 17 giờ, ngày 02/5/2024, sau khi sử dụng hết gói Heroine mua của Sùng Thị C, Sùng A T1 tiếp tục đến nhà P1 mua được của P1 01 gói Heroine giá 50.000 đồng. Sau đó, P1 đi sang nhà C gặp D, P1 đưa cho D số tiền 50.000 đồng và nói đây là tiền vừa bán Heroine rồi đi về nhà. Mua được H, T1 cầm gói Heroine đi sang bếp nhà C để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng. Hồi 19 giờ 00 phút, ngày 02/5/2024, khi D, C, T1 đang ở nhà Cha tại bản S, xã D, huyện P thì Công an xã D đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: Thu của Sùng A D: 01 lọ nhựa màu đỏ, bên trong đựng các cục nhỏ H và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. Thu của Sùng A T1: 01 gói Heroine được gói bằng một mảnh nilon màu hồng. Thu của Sùng Thị C: 01 gói Heroine được gói bằng một mảnh nilon màu xanh và một mảnh nilon màu đen (các vật chứng trên do D, C, T1 tự giao nộp). Thu của Sùng Thị P1: 02 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng.

Tại bản Kết luận giám định số: 24/KL-GĐVV, ngày 03/5/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Khối lượng chất bột màu trắng trong gói nilon màu hồng thu giữ của Sùng A T1 là 0,02 gam. Khối lượng chất một màu trắng trong lọ nhựa thu giữ của Sùng A D là 0,40 gam. Khối lượng chất bột màu trắng trong gói nilon màu xanh, lớp trong màu đen thu giữ của Sùng Thị C là 0,28 gam. Kết luận giám định số: 511/KL-KTHS, ngày 06/5/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 03 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Bản Kết luận giám định số: 25/KL-GĐVV, ngày 03/5/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Số chất bột màu trắng trong 02 gói nilon màu hồng thu giữ của Sùng Thị P1 có tổng khối lượng là 0,10 gam. Kết luận giám định số: 512/KL-KTHS, ngày 06/5/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 02 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Bản Kết luận giám định số: 522/KL-KTHS, ngày 06/5/2024, của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 02 tờ tiền Việt mệnh giá 50.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số: 80/CT-VKS-PT, ngày 11/9/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Sùng A D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Sùng Thị C, Sùng Thị P1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Sùng A D phạm Hình sự. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A D mức hình phạt từ 07 (Bảy) năm, 03 (Ba) tháng đến 07 (Bảy) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng Thị C mức hình phạt từ 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng Thị P1 mức hình phạt từ 02 (Hai) năm, 02 (Hai) tháng đến 02 (Hai) năm, 05 (Năm) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a,b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Tịch thu tiêu hủy: 0,51 gam Heroine còn lại sau giám định, các mảnh nilon và vỏ gói, vỏ niêm phong. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng. Đối với 0,29 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ trong vụ án đã được gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho các bị cáo. Tranh luận với phần đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt đối với các bị cáo, kiểm sát viên cho rằng mức hình phạt đã đưa ra là phù hợp nên giữ nguyên quan điểm.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng. Các bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, tặng nhiệm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và về xử lý vật chứng, án phí. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình, xem xét việc bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo D, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo C đang nuôi con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo P1 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo ở mức dưới khung hình phạt. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 02/5/2024, tại bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, Sùng A D đã đưa H cho Sùng Thị C, Sùng Thị P1 để nhờ Cha, P1 bán hộ. Sau khi nhận Heroine của D, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, Sùng Thị C bán trái phép 01 cục Heroine cho Sùng A T1 lấy số tiền 50.000 đồng. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Sùng Thị P1 bán trái phép 01 cục Heroine cho Sùng A T1 lấy số tiền 50.000 đồng. Sau khi bán được H thì C, P1 đưa tiền bán Heroine cho D. Đến 19 giờ 00 phút, ngày 02/5/2024, khi D, C, T1 đang ở nhà Cha tại bản S, xã D, huyện P thì Công an xã D phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Qua kết quả trưng cầu giám định xác định được, số Heroine thu giữ của Sùng A D có khối lượng 0,40 gam; Số Heroine thu giữ của Sùng Thị C có khối lượng 0,28 gam; Số Heroine thu giữ của Sùng A T1 có khối lượng 0,02 gam; Số Heroine thu giữ của Sùng Thị P1 có khối lượng 0,10. Sùng A D khai nhận số tiền 100.000 đồng là tiền CP1 bán Heroine hộ D. Sùng Thị C, Sùng Thị P1 khai nhận hành vi đã bán trái phép Heroine cho Sùng A T1, số Heroine bị thu giữ là của Sùng A D nhờ bán hộ. Như vậy, Sùng A D phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng Heroine là 0,4 + 0,28 + 0,02 + 0,10 = 0,80 gam. Sùng Thị C chịu trách nhiệm hình sự đối với 0,28 gam Heroine, Sùng Thị P1 chịu trách nhiệm hình sự đối với 0,10 gam Heroine. Sùng A T1 mua Heroine để sử dụng với khối lượng là 0,02 gam nên phải chịu trách nhiệm hành chính.

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo nhận thức được rõ H là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Sùng A D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Sùng Thị C, Sùng Thị P1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo số: 80/CT-VKS, ngày 11/9/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Tình tiết có liên quan trong vụ án:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Sùng A D khai do những người thuê làm không rõ lai lịch trả công nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

A T1 là hành vi vi phạm hành chính nên Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1.

Sùng Thị C không biết việc Sùng A D cất giấu Heroine trong nhà mình để bán kiếm lời, không biết việc D đưa H cho Sùng Thị P1 nhờ P1 bán hộ. Do vậy, Sùng Thị C không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với Sùng A D về tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Sùng Thị P1 không biết việc Sùng A D đưa H cho Sùng Thị C nhờ Cha bán hộ nên Sùng Thị P1 không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với Sùng A D về tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Việc Sùng A T1 đến bếp nhà Sùng Thị C định sử dụng ma tuý. Tu chưa kịp sử dụng Heroine thì bị phát hiện và trước đó T1 không hỏi xin phép Cha việc sử dụng ma tuý tại nhà của C nên C không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Sùng Thị P1 trên 70 tuổi nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tịa điểm o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo C, bị cáo P1 phạm tội lần đầu. Bị cáo P1 nằm trong diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy do Công an xã D quản lý. Bị cáo D đã 02 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, bị cáo đã chấp hành xong các quyết định nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật mà lại phạm tội.

[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Các bị cáo cùng nhau cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên các bị cáo có vai trò đồng phạm, tính chất đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ. Bị cáo D là người khởi xướng, trực tiếp cung cấp Heroine cho bị cáo C và bị cáo P1 bán. Các bị cáo C, P1 đều là người thực hành. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự.

người bào chữa tại phiên tòa về đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có phần phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: 0,51 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, 01 lọ nhựa, các mảnh nilon và vỏ gói, vỏ niêm phong, là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng là tiền các bị cáo bán Heroine mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 0,29 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ trong vụ án đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình các bị cáo thuộc hộ nghèo, các bị cáo đều xin được miễn nộp tiền án phí nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Bị cáo Sùng A D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Sùng Thị C, Sùng Thị P1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Sùng A D: 07 (Bảy) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng Thị C: 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/5/2024 đến ngày 12/5/2024 (09 ngày), còn phải chấp hành: 02 (Hai) năm, 02 (Hai) tháng, 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251, các điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng Thị P1: 02 (Hai) năm tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/5/2024 đến ngày 12/5/2024 (09 ngày), còn phải chấp hành: 01 (Một) năm, 11 (Mười một) tháng tù.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0,51 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 lọ nhựa màu đỏ, các mảnh nilon và vỏ gói, vỏ niêm phong.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.0000 đồng.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 40 phút, ngày 17/9/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CA huyện Phong Thổ (CQĐT, THAHS, Nhà Tạm giữ);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh;
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 129/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger