TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 129/2023/HS-ST Ngày 25 – 8 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Công Khả
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Bảo Quốc
- Ông Phan Thống Nhất
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngoan – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Lữ Phương Đại – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm và tuyên án công khai vụ án hình sự thụ lý số 146/2023/TLST-HS ngày 15/8/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2023/QĐXXST-HS ngày 16/8/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Diệu T
giới tính: nữ; sinh năm: 1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 2 B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 02/12. Con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Ngọc N (đều đã chết). Chồng tên Trần Minh T1 và có 02 con tên Trần Thị Thu T2, sinh năm 1990 và Trần Minh T3, sinh năm 1993.
Tiền án; tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 16/10/2019, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 141/HSST. Qua xác minh, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2021 và đã được xóa án tích.
Tạm giữ, tạm giam: 28/3/2023 (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Bùi Khắc N1; sinh năm: 1978; địa chỉ: A L, Tổ B, Ấp B, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu T4; sinh năm: 1971; địa chỉ: B T, Khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 18 giờ 00 phút ngày 28/3/2023, tại trước số C N, Phường A, quận B, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an quận B phát hiện Nguyễn Thị Diệu T đang điều khiển xe mô tô mang BKS: 51U6-7093 nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trong túi quần phía trước bên phải mà T đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa tinh thể không màu (01 đoạn trong suốt, 01 đoạn màu xanh), nghi vấn là ma túy nên Công an đưa T về trụ sở để làm việc. Tại đây, T khai nhận đây là ma túy do T mua và cất giấu để sử dụng. Công an đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại C N, Phường A, quận B thì phát hiện thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 kéo, 05 ống hút nhựa, 01 hộp quẹt. T khai đây là công cụ để T sử dụng, phân chia ma túy cất giấu nên Công an tiến hành thu giữ, niêm phong tang vật và lập hồ sơ xử lý.
Tại Cơ quan Công an, T khai: thông qua bạn bè ngoài xã hội khoảng 01 tháng trước khi bị bắt, T biết được người bán ma túy thường gọi là T5 (không rõ lai lịch) ở khu vực hẻm I X, Phường B, quận B. Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 28/3/2023, T dùng số điện thoại 0773.250.xxx liên hệ với T5 sử dụng số điện thoại 0932.032.xxx hỏi mua 800.000 đồng ma túy “đá”, T5 đồng ý bán và hẹn giao dịch tại hẻm I X. Tại đây T đưa tiền và nhận ma túy từ T5 gồm 01 gói nylon chứa ma túy “đá”. Sau khi mua má túy xong, T mang về nhà sử dụng được một ít, ma túy còn lại thì phân chia ra thành 02 đoạn ống hút cất giấu để tiện cho việc sử dụng sau. Sau đó T điều khiển xe mô tô mang BKS: 51U6 - 7093 để thu mua ve chai thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang như nêu trên.
Khi cần mua ma túy thì T chỉ cần gọi điện thoại cho T5 và đến khu vực hẻm I X để mua ma túy và thanh toán bằng tiền mặt. T chỉ trao đổi mua ma túy bằng hình thức gọi điện thoại, không nhắn tin nên không phát hiện có tin nhắn mua ma túy. T đã mua ma túy của T5 được 03 lần, mỗi lần đều mua 800.000 đồng ma túy “đá” để sử dụng dần. Không ai biết hay tham gia cùng T mua, cất giấu số ma túy trên.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh số điện thoại của Triều và tiến hành phối hợp Công an P, quận B rà soát, xác minh nhưng đến nay vẫn chưa phát hiện.
Kết quả xét nghiệm: T dương tính với M.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt chứa tinh thể không màu, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh chứa tinh thể không màu thu giữ của T. Theo kết luận giám định số 2977/KL-KTHS ngày 04/4/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, xác định: là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 0,9349 gram, loại Methamphetamine. Sau giám định, mẫu vật còn lại là tinh thể không màu có tổng khối lượng là 0,5956 gram.
- - 01 điện thoại di động Oppo màu đen (số điện thoại: 05671432xxx; 0773250472) là tài sản của T sử dụng để liên hệ, trao đổi mua ma túy.
- - 01 điện thoại di động Oppo màu đen (số điện thoại: 0795.544.xxx) là tài sản của T, không dùng vào việc liên hệ mua ma túy.
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa), 01 kéo, 05 ống hút nhựa trong suốt dài 20cm, 01 hộp quẹt: là công cụ T dùng để sử dụng và phân chia ma túy.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu: không rõ, số loại: không rõ, biển số: 51U6-7093; màu đen; số khung: LXDXCGL04Y1611115, số máy: FMG001130081. Theo kết luận giám định số 3060/KL-KTHS ngày 30/5/2023 của Phòng K Công an thành phố H, xác định: số khung: không thay đổi, số máy: bị mài đục lại, không xác định được số nguyên thủy.
Theo kết quả xác minh của Đội Cảnh sát giao thông – Trật tự, Công an quận B xác định:
- + Biển số 51U6 – 7093: thuộc xe mô tô nhãn hiệu: FASHION, số loại: HAI BANH NU, loại xe: h ai bánh từ 50 - 175 cm³, màu: nâu, số máy: 1P50FMG3Y0300945, số khung: FS100Y0900655. Biển số này do ông Bùi Khắc N1 (sinh năm: 1978, ngụ A L, Tổ B, Ấp B, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh) đăng ký sở hữu. Tuy nhiên ông N1 hiện tại đi đâu không rõ, chưa làm việc được với Cơ quan điều tra.
- + Số khung LXDXCGL04Y1611115; thuộc xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: C100, biển số: 53X7 – 7490, loại xe: hai bánh từ 50 – 175 cm³, màu: nâu, số máy: LC150FMG01611115, số khung: LXDXCGL04Y1611115. Số khung này do bà Nguyễn Thị Thu T4 (sinh năm: 1971; HKTT: 21 T, Khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) đăng ký sở hữu. Bà T4 khai nhận: vào năm 2001, bà T4 đã mua chiếc xe mô tô trên với giá 10.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại, đến năm 2007 bà T4 đã cho một người bạn ngoài xã hội tên T6 (không rõ lai lịch) chiếc xe mô tô trên. Bà T4 không biết hiện tại ai là người chủ sở hữu thực tế của xe mô tô trên.
- + Số máy FMG00130081: xác minh không có kết quả.
Qua làm việc với bị cáo xác định: chiếc xe bị cáo mua của một người thu mua ve chai vô tình T gặp ngoài đường (không rõ lai lịch) với giá 700.000 đồng nhưng T không làm giấy tờ mua bán do giá trị thấp và cũng không có giấy tờ xe. T mua chiếc xe trên mục đích để đi thu mua ve chai, trong đó có sử dụng để đi mua ma túy. Cơ quan CSĐT đã đăng báo tìm những người liên quan đến xe máy trên nhưng đến nay chưa ai đến liên hệ làm rõ. Tra cứu dữ liệu kho vật chứng thì không có dữ liệu.
Tại Cáo trạng số 148/CT-VKSBT ngày 05 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Diệu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Diệu T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ một phần hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo Nguyễn Thị Diệu T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, các vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên thu thập và bị cáo cung cấp đều thực hiện đúng quy trình, thủ tục. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó những chứng cứ tài liệu có trong vụ án đều hợp pháp.
[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
[2.1] ] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi do bị cáo thực hiện trong vụ án như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu. Hội đồng xét xử nhận thấy, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 28/3/2023, tại trước số nhà C N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Diệu T đã tàng trữ trái phép 0,9349 gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine. Mục đích cất giấu là để sử dụng cho bản thân.
[2.2] Bị cáo Nguyễn Thị Diệu T là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên, nhằm thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã mua ma túy và cất giấu ma túy để sử dụng cho bản thân. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tiếp tay cho các tội phạm khác về ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chính sách phòng chống tội phạm về ma túy, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Đây là lỗi cố ý của bị cáo.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Đối với người tên “Triều” bán ma túy cho Nguyễn Thị Diệu T, hiện không rõ lai lịch nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành xác minh khi nào làm rõ đề nghị xử lý sau.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng từng bị xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng:
- - Đối với 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt chứa tinh thể không màu, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh chứa tinh thể không màu thu giữ của T là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 0,9349 gram, loại Methamphetamine. Xét đây là vật cấm lưu hành cần tịch thu và tiêu huỷ.
- - Đối với 01 điện thoại di động Oppo màu đen (số điện thoại: 05671432xxx; 0773250472): là tài sản của bị cáo sử dụng để liên hệ, trao đổi mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- - Đối với 01 điện thoại di động Oppo màu đen (số điện thoại: 0795.544.xxx) là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- - Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa), 01 kéo, 05 ống hút nhựa trong suốt dài 20cm, 01 hộp quẹt. Đây là công cụ bị cáo dùng để sử dụng và phân chia ma túy nên cần tịch thu và tiêu hủy.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu: không rõ, số loại: không rõ, biển số: 51U6-7093; màu đen; số khung: LXDXCGL04Y1611115, số máy: FMG001130081. số máy: bị mài đục lại, không xác định được số nguyên thủy biển số 51U6 – 7093 do ông Bùi Khắc N1 đăng ký sở hữu. Tuy nhiên ông N1 hiện tại đi đâu không rõ. Số khung LXDXCGL04Y1611115 do bà Nguyễn Thị Thu T4 đăng ký sở hữu. Bà T4 đã mua chiếc xe mô tô trên vào năm 2001 và bán năm 2007 cho một người bạn ngoài xã hội. Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe trên trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày đăng 22/6/2023, nếu không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí:
bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diệu T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2023.
[2] Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động Oppo màu đen (số điện thoại: 0795.544.xxx).
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 2977/(687/23), có các chữ ký ghi tên Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T7 và cán bộ điều tra Nguyễn Anh Tấn D. Bên trong mẫu vật còn lại sau khi thực hiện giám định là tinh thể không màu có tổng khối lượng 0,5956 gram
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa), 01 kéo, 05 ống hút nhựa trong suốt dài 20cm, 01 hộp quẹt.
- - Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày đăng 22/6/2023 đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu: không rõ, số loại: không rõ, biển số: 51U6-7093; màu đen; số khung: LXDXCGL04Y1611115, số máy: FMG001130081. Hết thời hạn nêu trên mà không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh)
[3] Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Khả |
Bản án số 129/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 129/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cáo trạng số 148/CT-VKSBT ngày 05 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Diệu Tâm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
