Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 129/2024/DS-PT

Ngày: 25 - 6 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm

Các Thẩm phán:

Bà Đào Thị Huệ

Bà Bùi Thị Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 99/2023/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 106/2024/QĐ-PT ngày 10/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/QĐ-PT ngày 23/4/2024, Thông báo v/v thay đổi thời gian mở phiên tòa số 70/2024/TB-TA ngày 15/5/2024, quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 46/2024/QĐ-PT ngày 31/5/2024, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; Địa chỉ: Đ, thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1963; Địa chỉ thường trú: G đường T, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Địa chỉ liên hệ: Số E đường C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).

  1. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số nhà B, tổ H, ấp H, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1: Luật sư Nguyễn Thị Q, sinh năm 1979 - Công ty L – Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: B đường B, KP I, phường H, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Tầng A, Tòa nhà P, E Đ, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Phạm Bá S, sinh năm 1948; Địa chỉ: Số nhà B, tổ H, ấp H, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
    2. Ủy ban nhân dân xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Hữu T2 - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P. (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Chí D – chức vụ: Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P; ông Vũ Hồng Q1 chức vụ: Công chức ĐC-NN-XD-MT xã P. (Vắng mặt).

  1. Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Trang Đ - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X. (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoài N - chức vụ: Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường và ông Nguyễn Thanh T3 - chức vụ: Chuyên viên Phòng T6. (Vắng mặt).

  1. Người làm chứng:
    1. Ông Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp H, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
    2. Ông Ngô Văn H, sinh năm 1955; Địa chỉ: ấp V, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
    3. Hồ Thị Đ1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Tổ G, ấp H, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
  2. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T1 là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy quyền của bà T trình bày:

Ngày 04/11/2011 bà Nguyễn Thị T (là cháu của bà Huỳnh Thị H1) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Huỳnh Thị H1 diện tích đất 322m² thửa số 96, tờ bản đồ số 34 (bản đồ số hóa năm 2005) tại Ấp H, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Ngày 04/01/2011 bà T đã được điều chỉnh sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R424444, do UBND huyện X cấp ngày 18/07/2000. Thời điểm bà T nhận chuyển nhượng thì đất có hiện trạng là có hàng rào kẽm gai trụ bê tông kéo xung quanh, bên hông có đường đất rộng khoảng 1m, đất để trống.

Ngày 11/6/2020, ông B là người đại diện theo ủy quyền của bà T có làm hợp đồng đo đạc với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X để đo đạc, cắm mốc ranh giới đối với diện tích đất trên. Khi thực hiện việc cắm mốc đã phát hiện một số cây tràm được trồng trên đất đã bị chặt và bà Nguyễn Thị T1 là người có đất giáp ranh phía sau đất của bà T đã làm hàng rào lấn chiếm một phần diện tích đất để sử dụng.

Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết:

Tuyên buộc bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị T diện tích đất khoảng 89,1m² thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 34 (bản đồ số hóa năm 2005) tọa lạc tại tổ H, Ấp H, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đồng thời yêu cầu bà T1 phải tháo giỡ hàng rào, mái che, di dời các cây cối trên diện tích đất nói trên để trả lại đất cho bà T.

- Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Hiện nay bà đang sử dụng thửa đất có diện tích 550,8m², thuộc thửa đất số 106, tờ bản đồ số 127, tọa lạc tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nguồn gốc đất do bà nhận chuyển nhượng của ông Ngô Văn H là anh ruột của bà Ngô Thị H2 với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), khi nhận chuyển nhượng thì có làm giấy tay có người mua là bà và ông Ngô Văn H là người bán ký tên và có chính quyền địa phương xác nhận. Bà sử dụng ổn định từ năm 1998 đến nay, khi nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có về đo đạc đất, lúc đo đạc bà không có ở nhà nên họ đã đo chồng lấn đất của ông V lên phần đất của bà. Đến năm 2016 bà hỏi chính quyền địa phương tại sao bà vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lúc đó họ có hướng dẫn bà về làm lại giấy sang nhượng đất. Vào ngày 17/7/2016 bà có làm lại giấy sang nhượng đất với ông Ngô Văn H, có những hộ dân xung quanh xác nhận.

Năm 2016 bà lên Ủy ban nhân dân huyện X hỏi đất của bà sao chưa được cấp sổ, trên đó mới trả lời là diện tích đất của bà còn lại 370m² thì bà không làm sổ nữa mà rút hồ sơ về. Năm 2021 địa chính xã P mời bà lên giải quyết tranh chấp với bà T, thì bà mới biết sự việc có người tranh chấp đất với bà, trước đó bà sử dụng đất ổn định từ năm 1998, có làm nhà trên đất để ở, hàng rào bốn bên (trước đó hàng rào cây) đến năm 2019 bà mới xây lại hàng rào, thời điểm bà làm hàng rào lại không ai tranh chấp, không có ai cản trở. Khi bà làm lại hàng rào thì bà có thụt vào so với hàng rào cũ khoảng 40 đến 50m2, khi bà làm lại hàng rào có nhờ ông Nguyễn Ngọc G là tổ trưởng tổ H, ấp H và bà Hồ Thị Đ1 chứng kiến, bà khẳng định không chặt phá tràm để làm hàng rào như phía nguyên đơn trình bày. Năm 2019 nhà nước có chủ trương đo lại đất theo hiện trạng, sau khi đo đạc lại diện tích đất của bà còn lại là 550,8m², tuy nhiên do đất đang tranh chấp nên bà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay bà không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T vì bà sử dụng đúng diện tích đất của bà, không lấn chiếm đất của bà T.

- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Bá S trình bày: Ông là chồng của bà T1 chung sống như vợ chồng từ năm 2006 nhưng chưa đăng ký kết hôn. Ông có biết sự việc bà T và bà T1 xảy ra tranh chấp đối với thửa đất số 96, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại tổ H, ấp H. Tuy nhiên sự việc cụ thể như thế nào ông không rõ. Thửa đất và nhà trên là tài sản riêng của bà T1, bà T1 mua trước khi chung sống với ông, do đó không liên quan gì đến ông, đề nghị bà bà T1 giải quyết với bà T. Căn nhà và trên phần đất bà T1 sử dụng hiện nay ông và bà T1 đang ở. Phần mái che và phần hàng rào do ông và bà T1 xây dựng, mái che làm trước khi xây dựng hàng rào khoảng năm 2018-2019. Qua sự việc xảy ra tranh chấp giữa bà T và bà T1 thì ông không có yêu cầu gì.

- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người làm chứng ông Nguyễn Ngọc G trình bày: Ông G không có mối quan hệ gì với bà T, ông là hàng xóm của bà T1, là anh ruột của ông V mà bán đất cho bà T. Thửa đất hiện nay bà T1 đang sử dụng nguồn gốc là của em ruột của ông H tên là Ngô Thị H2 mua lại của ông H3 và bà G1 (nguồn gốc từ đâu mà ông H3 và bà G1 có thì ông không rõ). Năm 1998 bà T1 về dạy học ở Hồ T, có dạy con của ông nên ông biết bà T1, bà T1 lúc đó không có nhà cửa nên ông giới thiệu đất của bà H2 cho bà T1 mua, mua với giá tiền mặt là 200.000đ. Đất hồi đó ông H là anh ruột của bà H2 đứng ra bán, ông H là người chỉ ranh đất, các bên có bẻ cây đo áng chừng diện tích khoảng 600m2, thời điểm đó không có địa chính gì đo đạc. Thời điểm mua bán đất chưa ai được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chỉ mua bán bằng giấy tay.

Vào năm 1993 do voi rừng về đuổi thì ông V xin ở nhờ trên một phần đất của bà H2, thời gian sử dụng lâu dài thì nhà nước về đo đạc đất, bà T1 không ở nhà, ông V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sau này bán lại phần đất này cho bà T, hiện nay tranh chấp với bà T1.

Thời điểm mua bán thì đất không có đường đi, khoảng năm 2004 thì gia đình bà T4 không cho đi đường chính nên người dân mới tự mở lối đi, một phần của lối đi ở trước mặt hàng rào của nhà bà T1, một phần bên hông nhà của bà T1, lối đi này là lối đi tự phát nhưng trên đất của bà T1, ông V có đào một giếng trên đất của ông V, giếng nằm sát bên đường đi, khi ông V đào giếng thì hai bên có gây lộn với nhau. Đường đi này ngăn cách một bên là đất của ông V một bên là đất của bà T1. Hiện trạng đất từ năm 1998 từ đường nhựa vào nhà bà T1 có một lối đi khác 8m hiện nay bà T1 đang đi, còn lối đi trước hiên nhà bà T1 và lối đi bên hông nhà khoảng 1m, hiện nay lối đi này không còn.

Hàng rào mới do bà T1 rào vào năm 2019, có ông tham gia rào cùng với em ruột của bà T1, hàng rào mới làm trên nền hàng rào cũ, đất bà T1 còn nhiêu thì rào bấy nhiêu. Ông cam đoan lời khai của ông là đúng sự thật, có gì sai ông hoàn toàn chịu trách nhiệm.

- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người làm chứng ông Ngô Văn H trình bày: Ông H không có mối quan hệ gì với bà T và bà T1. Thửa đất hiện nay bà T1 đang sử dụng nguồn gốc là của em ruột của ông tên Ngô Thị H2 mua lại của ông H3 và bà G1 (đất này nguồn gốc từ đâu ông H3 và bà G1 có thì ông không rõ), khi em ruột của ông đi lấy chồng thì mới nói ai mua được thì bán giùm cho em ông, bà T1 có nhu cầu mua nên ông bán lại cho bà T1 với giá 300.000đ vào ngày 06/12/1998, tuy nhiên chỉ ghi vào giấy chuyển nhượng giá 200.000đ, diện tích đất thời điểm tôi bán cho bà T1 là khoảng 600m², khi tôi bán thì có viết giấy tay “Giấy tay sang nhượng đất” ngày 06/12/1998, giấy tay sang nhượng đất bản chính do bà T1 giữ.

Ông bán đất lâu rồi nên không nhớ hiện trạng, ông chỉ nhớ sau này trên đất có một đường nhỏ đi ngang qua đất, đường này là đường mòn người dân tự mở, thời gian lâu dài thì con đường này ngăn cách đất của bà T1 và ông V (sau này bán lại đất cho bà T). Sau khi bán đất xong thì ông đi nơi khác ở nên ông không nắm rõ quá trình sử dụng đất sau này giữa bà T1 và các chủ đất liền kề. Thời điểm ông bán đất cho bà T1 có hàng ranh là những cây tràm cắm xuống chứ không có xây dựng hàng rào như hiện nay. Khi chuyển nhượng đất thì ông chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi bán thì các bên có 1 bẻ cây để đo và áng chừng diện tích và viết giấy sang nhượng chứ không thuê địa chính đo đạc, khi áng chừng diện tích thì đất hơn 600m² nhưng ghi khoảng 600m². Ông cam đoan lời khai của ông là đúng sự thật, có gì sai ông hoàn toàn chịu trách nhiệm.

- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người làm chứng bà Hồ Thị Đ1 trình bày: Bà Đ1 không có mối quan hệ gì với bà T và bà T1, nhà bà ở cách nhà bà T1 mấy chục mét. Năm 1988-1989 bà về Hồ Tràm sinh sống, thửa đất hiện nay bà T1 đang sử dụng nguồn gốc là của em ruột của ông H tên Ngô Thị H2 mua lại của ông H3 và bà G1, nguồn gốc do ban ấp cấp cho ông H3 và bà G1. Năm 1991-1992 vợ chồng ông H3 và bà G1 đi về Bình Thuận ở thì nhờ bà kiếm người bán dùm, bà H2 (em của H) mua lại, giá bao nhiêu thì bà không nhớ rõ, khoảng năm 1998 thì bà H2 bán lại cho bà T1, giá bán bao nhiêu bà không nhớ. Thời điểm đó toàn bộ khu đất bà T1 sử dụng và của ông V (bán lại cho bà T) đều là của ông H3, bà G1. Năm 1993 do voi rừng về đuổi thì ông V xin ở nhờ trên đất của ông H3, bà G1, thời gian sử dụng lâu dài thì nhà nước về đo đạc đất, bà T1 không ở nhà. Sau này ông V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bán lại cho bà T.

Thời điểm năm 1994 trên đất chưa có đường, đến khoảng năm 1999-2000 trên đất mới có một đường mòn nhỏ, đường tự phát của người dân khoảng 1m, con đường này một phần bên hông nhà của bà T1 và một phần ở trước hiên nhà của bà T1, ông V có đào một cái giếng sát con đường đi thì hai bên có gây nhau. Con đường đi này ngăn cách đất của ông V và đất của bà T1.

Con đường này hiện nay lâu ngày không ai đi nên hiện trạng không còn. Hiện nay bà Tâm r lại hàng rào, rào trên nền hàng rào cũ ngày xưa, đất bà T1 còn bao nhiêu thì rào lại bấy nhiêu. Bà cam đoan lời khai của bà là đúng sự thật, có gì sai bà hoàn toàn chịu trách nhiệm.

- Tại Công văn ngày số 568/UBND-VP ngày 07/7/2023, Ủy ban nhân dân xã P, huyện X có ý kiến: Tại bản đồ địa chính đo mới năm 2021, thể hiện thửa đất do bà nguyễn Thị T5 sử dụng, thuộc thửa đất số 106, tờ bản đồ số 127, diện tích 550,8m². Qua lồng ghép với bản đồ năm 2000 (số hóa năm 2005), trong đó có một phần diện tích đường giao thông thuộc thửa đất số 323, tờ bản đồ số 34, đường giao thông này đã được cập nhật vào bản đồ địa chính năm 2000 và số hóa năm 2005. Thửa đất bà Nguyễn Thị T1 sử dụng hiện chưa được cấp thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa phương.

Đồng thời, diện tích bà Nguyễn Thị T1 sử dụng có đủ điều kiện để địa phương đề nghị cấp thẩm quyền xem xét cấp Giấy chứng nhận hay không phải căn cứ vào thành phần hồ sơ và các giấy tờ kèm theo do người sử dụng đất đề nghị, sau khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận, địa phương sẽ căn cứ quy định tại Khoản 2, Điều 70, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Đối với lối đi thể hiện trên bản đồ 2005, UBND xã có ý kiến như sau: Đề nghị khôi phục, trả lại hiện trạng ban đầu khi có nhu cầu sử dụng, đi lại của người dân trong khu vực và văn bản của cấp thẩm quyền, đảm bảo phù hợp theo quy định của pháp luật, phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng được duyệt.

- Tại Công văn số 4611/UBND-TNMT ngày 18/7/2023, Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có ý kiến: Đối với việc quy hoạch sử dụng đất Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 của huyện X được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 1098/QĐ-UBND ngày 01/4/2022 thì các thửa đất số 46, 1121 tờ bản đồ số 34 quy hoạch đất ở và thửa đất số 323, tờ bản đồ số 34 quy hoạch xã P quy hoạch đường giao thông.

Đối với điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo Điều 100, 101 Luật đất đai năm 2013 và Điều 20 của Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Đối với nội dung khác liên quan đến việc hình thành lối đi được UBND xã P phúc đáp Tòa án nhân huyện X tại công văn số 568/UBND-VP ngày 07/7/2023. UBND huyện X có ý kiến phúc đáp nêu trên để Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xem xét giải quyết theo quy định.

- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 99/2023/DS-ST ngày 27/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc đã quyết định như sau:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn bà Nguyễn Thị T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  2. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Bá S phải trả cho bà Nguyễn Thị T diện tích đất là 89,1m², thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 34 toạ lạc tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo đúng như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện X, cấp cho bà Nguyễn Thị T. Vị trí diện tích đất nói trên thuộc lô B có toạ độ 9-8-7-20-21-10-9, theo M trích đo địa chính (Phục vụ giải quyết tranh chấp) do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện X lập ngày 18-01-2023.

Buộc bà Nguyễn Thị T1 và ông Phạm Bá S phải tháo dỡ hàng rào, mái che và di dời toàn bộ cây trồng, vật kiến trúc hiện đang tồn tại trên diện tích đất 89.1m² để giao trả quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.

- Ngày 06/12/2023 bị đơn bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm đưa ra xét xử và tuyên bản án không có cơ sở, không đúng quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1:

[1.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Theo Mảnh trích đo địa chính ngày 18/01/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đất tranh chấp thuộc lô B, diện tích 89,1m² thuộc một phần thửa đất số 96, tờ bản đồ số 34 (bản đồ số hóa 2005), xã P, huyện X, các điểm tọa độ 9-8-7-20-21-10-9, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn V1; ngày 07/8/2008 ông V1 nhuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị H1; ngày 01/9/2010 bà H1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T, bà T được chỉnh lý sang tên quyền sử dụng đất ngày 04/01/2011.

[1.2] Đối với phần đất thửa số 106, tờ bản đồ số 127, xã P, huyện X bị đơn đang sử dụng: Theo bà Nguyễn Thị T1, phần đất bà T1 đang sử dụng diện tích khoảng 550.8m² thuộc thửa số 106, tờ bản đồ số 127, xã P (bản đồ địa chính năm 2021), tương ứng với thửa đất số 46, tờ bản đồ số 34 (bản đồ số hóa năm 2005) do bà T1 nhận chuyển nhượng của ông Ngô Văn H, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng. Bà T1 cho rằng bà T1 nhận chuyển nhượng đất của ông Ngô Văn H là 600m²; ông H xác nhận “Có con đường ngăn cách nhà bà T1 và ông V1 (sau này bán cho bà T); Sau khi bán đất cho T1 xong ông H đi nơi khác; khi bán cho bà T1 có hàng cây tràm cắm xuống đất chứ không xây dựng hàng rào như hiện nay; khi bán đất áng chừng diện tích khoảng 600m² (BL 77).

Như vậy thể hiện khi bà T1 nhận chuyển nhượng đất của ông H thì các bên không tiến hành đo đạc đất. Bà T1 xác nhận “Năm 2016 bà T1 lên Ủy ban nhân dân huyện X hỏi đất của bà sao chưa được cấp sổ, trên đó mới trả lời là diện tích đất của bà còn lại 370m² thì bà không làm sổ nữa mà rút hồ sơ về " (BL 70). Như vậy thể hiện thửa đất số 106 (mới là 46) bà T1 sử dụng có biến động về diện tích qua các lần cơ quan có thẩm quyền đo đạc và hiện nay vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[1.3] Về ranh giới đất của bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1: Ranh giới đất hiện hữu là hàng rào lưới B40, trụ bê tông. Bị đơn xác nhận hàng rào bị đơn làm lại năm 2019, khi làm lại hàng rào có lùi vào so với hàng rào cũ khoảng 40cm đến 50cm, khi làm lại hàng rào có mời ông Nguyễn Ngọc G và bà Hồ Thị Đ1 đến chứng kiến, tuy nhiên không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đo đạc và xác định mốc giới đất trên thực địa. Ngoài lời khai của người làm chứng, bà T1 không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào khác thể hiện việc làm lại hàng rào theo đúng ranh giới cũ.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T cho rằng ranh giới trước đây là hàng rào cũ dây kẽm gai nhưng bị đơn đã tháo dỡ.

Các bên không thống nhất về ranh giới đất hiện tại và không có căn cứ xác định ranh giới cũ trước năm 2019 (trước khi bị đơn làm lại hàng rào). Nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận khi bà Tâm 1 lại hàng rào không yêu cầu bà T có mặt và không được cơ quan có thẩm quyền xác định ranh giới, việc bà Tâm 1 lại hàng rào chưa được sự thống nhất của bà T. Ranh giới cũ trước năm 2019 hiện nay không còn nên không có căn cứ xác định vị trí của ranh giới này. Bị đơn xác nhận làm lại hàng rào từ năm 2019, không đủ điều kiện xác định là ranh giới đất theo Điều 175 Bộ luật dân sự.

Diện tích đất tranh chấp 89,1m² thửa số 96, tờ bản đồ số 34 (tờ bản đồ số hoá 2005), xã P nằm trong tổng diện tích 322m² bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà T cho rằng trước đây phần giáp ranh đất của bà T và bà T1 có đường đất rộng khoảng 1m, phù hợp với bản đồ địa chính qua các thời kỳ thể hiện thửa đất số 96 của bà T và thửa 106 (mới là 46) bà T1 sử dụng được ngăn cách bởi đường giao thông. Những người làm chứng cũng xác nhận khoảng năm 2004 người dân có tự mở lối đi ngăn cách giữa đất của bà T và đất của bà T1. Qua xem xét thẩm định tại chỗ và lời khai của những người làm chứng thì đường giao thông hiện nay không còn hiện hữu do người dân không còn nhu cầu sử dụng.

[1.4] Theo Mảnh trích đo địa chính ngày 18/01/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện X thể hiện bà Nguyễn Thị T1 sử dụng lấn sang phần đất của bà Nguyễn Thị T là 89.1m² thuộc thửa số 96, tờ bản đồ số 34 (bản đồ số hóa năm 2005), xã P, huyện X, vị trí lô B, tọa độ 9-8-7-20-21-10-9.

Thửa đất số 106 bà T1 đang sử dụng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà T căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình để yêu cầu bị đơn bà T1 trả lại diện tích đất 89.1m² thuộc một phần thửa đất số 96, tờ bản đồ số 34 (bản đồ số hóa năm 2005), xã P, huyện X là có căn cứ chấp nhận.

[1.5] Về tài sản trên đất tranh chấp: Theo Mảnh trích đo địa chính ngày 18/01/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện X và qua xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện trên diện tích đất tranh chấp có một phần mái che, hàng rào lưới B40, trụ bê tông và một số cây trồng. Nguyên đơn và bị đơn xác nhận mái che, hàng rào trên đất tranh chấp do bị đơn làm từ cuối năm 2018. Nguyên đơn xác nhận một số cây tự mọc và một số cây do bị đơn trồng; bà T1 xác nhận cây do bà T1 trồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên đất để trả lại đất cho nguyên đơn. Tài sản trên đất đều có thể di dời được, nên bà T1 có nghĩa vụ tháo dỡ di dời hàng rào, mái che và di dời cây trồng trên đất tranh chấp để trả lại quyền sử dụng đất cho bà T.

[1.6] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Bá S xác nhận ông S và bà T1 chung sống với nhau từ năm 2006 chưa đăng ký kết hôn, phần đất tranh chấp là tài sản riêng của bà T1 nhận chuyển nhượng trước khi chung sống với ông nên việc tranh chấp không liên quan đến ông. Bà T1 và ông S xác nhận hiện nay bà T1 và ông S sinh sống trong căn nhà và cùng sử dụng diện tích đất tranh chấp, một phần mái che và hàng rào trên đất tranh chấp do bà T1 và ông S làm nên bà T1 và ông S cùng có nghĩa vụ tháo dỡ di dời tài sản trên đất để trả lại đất cho bà T.

[1.7] Đối với diện tích đường giao thông nông thôn thuộc thửa đất số 323 các bên chỉ ranh lấn sang. Hiện không có tranh chấp nên không xét.

[1.8] Chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm là 9.098.947 đồng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng: Do yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị T1 phải chịu. Bà T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà T số tiền 9.098.947 đồng.

[1.9] Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T được chấp nhận nên bà T1 phải chịu 300.000 đồng.

[2] Từ nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và sao lục hồ sơ tại Tòa án cấp phúc thẩm là 2.440.000 đồng: Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 phải chịu.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị dơn bà Nguyễn Thị T1 không được chấp nhận nên bà T1 phải chịu.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 99/2023/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như sau:

Căn cứ các Điều 147, 157, 165, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 265 Bộ luật Dân sự 2005; các Điều 164, 166, 175, 176 Bộ luật dân sự 2015; Các Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 26, 27, 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  2. Nguyễn Thị T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Bá S có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T diện tích đất 89,1m², thuộc thửa số 96, tờ bản đồ số 34, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R424444, do UBND huyện X cấp ngày 18/7/2000, chỉnh sang tên bà Nguyễn Thị T ngày 04/01/2011. Vị trí diện tích đất nêu trên thuộc lô B có toạ độ 9-8-7-20-21-10-9 Mảnh trích đo địa chính (Phục vụ giải quyết tranh chấp) do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện X lập ngày 18/01/2023.

Nguyễn Thị T1 và ông Phạm Bá S có nghĩa vụ tháo dỡ di dời hàng rào, mái che và di dời toàn bộ cây trồng, vật kiến trúc trên diện tích đất 89,1m² thuộc thửa số 96, tờ bản đồ số 34, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nêu trên để trả lại quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T.

  1. Chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 9.098.947 đồng (chín triệu không trăm chín mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi bảy đồng).
  2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và sao lục hồ sơ tại Tòa án cấp phúc thẩm là 2.440.000 đồng: Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 phải chịu. Đã nộp xong.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
    2. Nguyễn Thị T không phải chịu. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo biên lai thu số 0010887 ngày 16/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
  4. Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000 đồng. Trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002639 ngày 08/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đã nộp đủ.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
  7. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - TAND H.Xuyên Mộc;
  • - Chi cục THADS H.Xuyên Mộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Trương Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/DS-PT ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 129/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên buộc Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn diện tích đất khoảng 89,1m2 thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 34 (bản đồ số hóa năm 2005) tọa lạc tại tổ 8, Ấp H, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Đồng thời yêu cầu Bị đơn phải tháo giỡ hàng rào, mái che, di dời các cây cối trên diện tích đất nói trên để trả lại đất cho Nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger