TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 129/2024/HS-ST
Ngày 25/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị An
Ông Tô Văn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Kỳ Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, đối với:
* Bị cáo: Lê Văn M, sinh năm 1979 tại Hà Nội. Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Lê Văn T (Đã chết); Họ tên mẹ: Dương Thị N; Họ tên vợ: Ngô Thị Thu T1, sinh năm 1984; Con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2004 và con nhỏ sinh năm 2018; D chỉ bản số 379 do Công an huyện Đ lập ngày 15/4/2024; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
* Nguyên đơn dân sự: C, C, Dòng họ Lê Đại T2 ở thôn T, xã K, huyện Đ, thành phô Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 30/12/2023, đại diện 12 gia đình thuộc C, C, Dòng họ Lê Đại T2 (ở thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội) tổ chức họp tại nhà ông Lê Văn Đ (sinh năm 1973, trú tại: Thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội) để bàn về việc sửa chữa, tu bổ lại mộ cụ Lê Hiệu Phúc S (Cụ Tổ đời thứ bảy của cành hai, chi một dòng họ Lê Đại T2) ở khu vực cánh đồng Đường thuộc thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội do mộ đã bị xuống cấp theo thời gian. Lê Văn M (sinh năm 1979, trú tại: Thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội) là trưởng cành hai, chi một dòng họ Lê Đại T2 được mời đến họp nhưng M không đến. M cho rằng ngôi mộ cụ Lê Hiệu Phúc S là của M được quản lý, nếu không được sự đồng ý của Mừng thì không ai được sửa chữa mộ, M không đồng ý tu sửa ngôi mộ do sợ đang trong quá trình đô thị hóa vừa sửa mộ xong Nhà nước thu hồi đất lại di chuyển mộ. Tại nhà ông Lê Văn Đ, đại diện 12 gia đình thuộc cành hai, chi một đã họp bàn và thống nhất mộ cụ Lê Hiệu Phúc S là mộ chung của cành hai đời thứ bảy đã xuống cấp cần phải sửa chữa, tu bổ và giao cho ông Lê Văn Đ là người giám sát việc thi công tu sửa và nhập vật liệu xây dựng. Sau đó, việc sửa chữa mộ cụ Lê Hiệu Phúc S bắt đầu từ ngày 31/12/2023 đến ngày 05/01/2024 thì hoàn thành.
Khoảng 12h45' ngày 06/01/2024, do bực tức vì mình không đồng ý tu sửa mộ nhưng những người trong dòng họ vẫn sửa chữa ngôi mộ cụ Lê Hiệu P Sạ nên Lê Văn M một mình đi xe đạp mang theo 01 bình nước ô doa, 01 ống kim loại (dạng ống tuýp sắt), 01 dùi đục lưỡi bằng kim loại, 01 búa bằng kim loại (dùi đục và búa M cất trong bình nước ô doa) đến khu vực ngôi mộ cụ Lê Hiệu Phúc S ở cánh đồng Đ thuộc thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Khi đến mộ cụ Lê Hiệu Phúc S, M dùng ống tuýp bằng kim loại, búa và dùi đục đập phá làm hư hỏng tường bao xung quanh ngôi mộ, bia mộ, tấm đá kim sa và một phần cuốn thư trên mộ. Quá trình M đập phá ngôi mộ cụ Lê Hiệu Phúc S, có anh Trần Văn D1, sinh năm 1982 và ông Lê Văn T3, sinh năm 1958, đều trú tại: Thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội làm ruộng gần đó chứng kiến. Ông Lê Văn T4 (sinh năm 1968, trú tại: Thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội) vừa là thợ xây, vừa là con cháu trong dòng họ Lê Đại T2 đi đến thấy M vừa đập phá ngôi mộ xong. Ông T4 nói “Mày là con cái nhà ai sao lại đập mộ tổ nhà tao”, vì lúc này M đội nón nên ông T4 chưa nhận ra là ai. Mừng nói "tao thích thì tao đập” nên ông T4 đi đến xô đẩy M ra khỏi khu vực ngôi mộ, hai bên xô đẩy nhưng cả hai không ai bị thương tích, anh Trần Văn D1 và ông Lê Trường G (sinh năm 1945, trú tại: Thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội) can ngăn, sự việc chấm dứt và M lấy xe đạp đi về.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ của ông Lê Văn T4: 01 ống tuýp bằng kim loại dài 01m, đường kính 03cm (ống tuýp M sử dụng đập phá mộ cụ Lê Hiệu Phúc S).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/HĐĐGTS ngày 11/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ kết luận Ngôi mộ cụ Lê Hiệu Phúc S bị hư hỏng thiệt hại: 10 hộp gạch thẻ kích thước (24x6x0,5)cm trị giá 1.100.000 đồng; 01 bia mộ kích thước (70x50)cm trị giá 2.600.000 đồng; 01 tấm đá kim sa kích thước (67x38x2)cm trị giá 900.000 đồng; 1200 viên gạch kích thước (21x10x5,5)cm trị giá 1.140.000 đồng; 0,6 tấn xi măng trị giá 1.020.000 đồng; 2,5m³ cát vàng trị giá 750.000 đồng; 36 công thợ xây trị giá 18.000.000 đồng. Tổng thiệt hại là 25.510.000 đồng.
Đối với 01 ống tuýp bằng kim loại dài 01m, đường kính 03cm (ống tuýp M sử dụng đập phá mộ cụ Lê Hiệu Phúc S), M khai là chiếc chân ô của M, ống tuýp là vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ chuyển Tòa án phục vụ xét xử.
Đối với 01 bình nước ô doa, 01 dùi đục bằng kim loại, 01 búa bằng kim loại, chiếc nón và 01 chiếc xe đạp Lê Văn M sử dụng đi đến mộ cụ Lê Hiệu Phúc S và sử dụng đập phá ngôi mộ cụ Lê Hiệu Phúc S. M khai, sau khi đập phá mộ, M đội nón, đi xe đạp và cầm bình nước ô doa về nhà, chiếc xe đạp và bình nước ô doa đã cũ hỏng, ngay sau ngày 06/01/2024 M đã bán phế liệu sắt vụn cho người không quen biết, nón hỏng đã vứt đi; 01 dùi đục bằng kim loại, 01 búa bằng kim loại M khai vứt ở gần khu vực đập phá ngôi mộ (không nhớ chính xác vị trí), Cơ quan Công an đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
Về dân sự: Ông Lê Văn Đ đại điện cành hai, chi một dòng họ Lê Đại T2 đề nghị Lê Văn M bồi thường số tiền 25.510.000 đồng do M đập phá hư hỏng ngôi mộ cụ Lê Hiệu Phúc S.
Quá trình điều tra, Lê Văn M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 124/CT-VKS ngày 29/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố bị cáo Lê Văn M về Tội xâm phạm mồ mả theo khoản 1 Điều 319 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lê Văn M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xác định đã bồi thường cho đại diện Cành 2, C, Dòng họ Lê Đại T2 số tiền 25.510.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ông Lê Văn Đ đại diện của C, C, Dòng họ Lê Đại T2 xác định đã được bị cáo bồi thường số tiền 25.510.000 đồng và không còn yêu cầu gì thêm về phần bồi thường.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo Lê Văn M về Tội xâm phạm mồ mả theo khoản 1 Điều 319 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 319, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt: Lê Văn M từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Về vật chứng: 01 tuýp sắt bằng kim loại dài 01m, đường kính 03cm, một đầu có khoá chốt không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng vụ án và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Do bức xúc về việc các đại diện Cành 2, C, Dòng họ Lê Đại T2 ở thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội tôn tạo mộ của cụ Lê Hiệu P Sạ nên khoảng 12 giờ 45 phút ngày 06/01/2024, tại cánh đồng Đ thuộc thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Lê Văn M đã có hành vi dùng ống tuýp bằng kim loại, búa và dùi đục đập phá làm hư hỏng phần tường và kiến trúc trên ngôi mộ cụ Lê Hiều Phúc S1 của cành hai, chi một dòng họ Lê Đại T2 ở thôn T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trị giá tài sản bị thiệt hại do hành vi của Lê Văn M gây ra là 25.510.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội xâm phạm mồ mả theo quy định tại khoản 1 Điều 319 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
"1. Người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên phần mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm".
...".
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố bị cáo Lê Văn M về Tội xâm phạm mồ mả theo quy định tại khoản 1 Điều 319 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn đối với phần mộ của người đã chết, xâm phạm đến phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo cố ý phạm tội. Do vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo nhất thời phạm tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tích cực khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 319 Bộ luật Hình sự: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Xét bị cáo không có mục đích chiếm đoạt tài sản khi xâm phạm mồ mả nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi trị giá tài sản bị thiệt hại cho Cành 2, C, Dòng họ Lê Đại T2 số tiền 25.510.000 đồng và đại diện Cành 2, C, Dòng họ Lê Đại T2 xác định đã được bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 25.510.000 đồng và không còn yêu cầu gì về phần bồi thương thiệt hại. Như vậy, các bên đã tự thỏa thuận, giải quyết xong về phần dân sự và không có yêu cầu gì thêm nên Tòa án không phải đặt ra xem xét, giải quyết.
Về vật chứng vụ án: 01 tuýp sắt bằng kim loại dài 01m, đường kính 03cm, một đầu có khoá chốt là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và nguyên đơn dân sự đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tại phiên tòa: Phù hợp với quy định của pháp luật và kết quả nghị án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lễ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn M phạm Tội xâm phạm mồ mả.
1. Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 319, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: L (Chín) tháng tù về Tội xâm phạm mồ mả nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Văn M cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù cho bản án đã được hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
2. Về vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 tuýp sắt bằng kim loại dài 01m, đường kính 03cm, một đầu có khoá chốt.
(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh, tình trạng như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 03/6/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh).
3. Về án phí sơ thẩm:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Lê Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo:
- Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo và nguyên đơn dân sự đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự chỉ có quyền kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Duy Khoa |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - tội xâm phạm mồ mả
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội xâm phạm mồ mả
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do bức xúc về việc các đại diện Cành 2, Chi 1, Dòng họ Lê Đại Tông ở thôn Thọ Đa, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tôn tạo mộ của cụ Lê Hiệu Phúc Sạ nên khoảng 12 giờ 45 phút ngày 06/01/2024, tại cánh đồng Đường thuộc thôn Thọ Đa, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Lê Văn Mừng đã có hành vi dùng ống tuýp bằng kim loại, búa và dùi đục đập phá làm hư hỏng phần tường và kiến trúc trên ngôi mộ cụ Lê Hiều Phúc Sạ của cành hai, chi một dòng họ Lê Đại Tông ở thôn Thọ Đa, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, trị giá tài sản bị thiệt hại do hành vi của Lê Văn Mừng gây ra là 25.510.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội xâm phạm mồ mả theo quy định tại khoản 1 Điều 319 Bộ luật Hình sự.
