Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

----------------

CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------

Bản án số: 129/2024/HS-ST

Ngày 24 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi

Bà Hoàng Thị Kim Phượng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Việt Cường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn Q, sinh 2005 tại Ninh Bình. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Xóm T, Nhuận H, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn K (Đã chết) và con bà: Nguyễn Thị H1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC ngày 30/11/2019 của Công an xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Phạm Văn Q bị phạt Cảnh cáo về hành vi “Đánh nhau”; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/3/2024, chuyển tạm giam ngày 26/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996 tại Hải Phòng; Nơi thường trú: Thôn C, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nơi ở trước khi bị bắt: Thôn H, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T (Đã chết) và con bà: Nguyễn Thị S; Vợ: Nguyễn Thị X (Đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Tại bản án số 17/2019/HS-ST ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn Đ bị xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/7/2020 (Đã được xóa án tích); Bị cáo bị bắt tạm giữ 18/3/2024, chuyển tạm giam ngày 26/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1996 tại Hải Phòng; HKTT: Xóm T, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Số nhà B, ngách A, ngõ A, đường H, phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L và con bà: Vũ Thị H3; Vợ: Phạm Thị Phương T1; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự:: Chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

4. Họ và tên: Trần Duy K1, sinh năm 2001 tại Nam Định; Nơi cư trú: Thôn M, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Duy L1 và con bà: Vũ Thị D; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

5. Họ và tên: Đặng Văn H4, sinh năm 1999 tại Hải Phòng; HKTT: Thôn Đ, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn H5 và con bà: Vũ Thị L2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Bùi Quang H6, anh Vũ Cảnh Đ1, chị Hà Thị Á, anh Trần Văn Á1, ông Hà Đăng K2, anh Nguyễn Thành Đ2. Đều vắng mặt.

Người chứng kiến: Anh Vũ Đức T2. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 16/3/2024, Trần Duy A sinh năm 2001 trú tại phố V, phường T, thành phố N biết Phạm Văn Q có nhắn tin nói chuyện với chị Hà Thị Á sinh năm 2000 trú tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (chị Á là người yêu của Duy A). Do bực tức nên Duy A đã sử dụng tài khoản Facebook Messenger của chị Á để nhắn tin, gọi điện và hẹn gặp Q để nói chuyện thì hai bên xảy ra cãi chửi nhau. Lúc này Q đang ở cùng Nguyễn Văn Đ và Bùi Văn H7 (sinh năm 2001 trú tại xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình) tại phòng trọ của Q tại thôn H, xã N, thành phố N. Thấy Duy A hẹn gặp và nói có biết Trần Văn Á1 (sinh năm 1997 trú tại phố B, phường N, thành phố N), thường gọi là “Cò N” nên Q gọi điện cho Á1 hỏi thì Á1 nói biết Duy A và bảo Q để Á1 đi nói chuyện với Duy A. Sau đó Trần Văn Á1 cùng một nam thanh niên tên Đ1 (Á1 không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) mang theo 01 túi đựng vợt cầu lông bên trong có 02 con dao đi đến phòng trọ của Q. Sau khi gọi điện cho Á1, Phạm Văn Q tiếp tục gọi điện thoại cho Nguyễn Văn H2 nói về việc có người hẹn đánh nhau với Q và bảo H2 đi đến phòng trọ của Q, Hiệp đồng ý. Lúc này H2 đang ngồi uống nước cùng với Đặng Văn H4, Trần Duy K1 và Vũ Cảnh Đ1 (sinh năm 1996 trú tại phố T, phường T, thành phố N) nên H2 rủ cả nhóm đi đến phòng trọ của Q.

Sau khi hẹn gặp Q thì Trần Duy A cùng Nguyễn Thế A1 (sinh năm 2001 trú tại phố B, phường B, thành phố N) đi xe taxi đến khu vực ngã ba K thuộc thôn H, xã N, thành phố N. Trên đường đi Duy A dừng lại tại khu vực đường N, phường B, thành phố N lấy 01 con dao phay màu đen dài khoảng 35cm cất giấu từ trước ở cột điện, mục đích đi tìm nhóm của Q để đánh nhau.

Khoảng 21 giờ ngày 16/3/2024, H2, H4, K1, Vũ Cảnh Đ1, Á1 và Đ1 (bạn của Á1) đi đến phòng trọ của Q tại thôn H, xã N, thành phố N. Phạm Văn Q cầm 01 thanh kiếm bằng kim loại (dài khoảng 01m, lưỡi dài 80cm, chuôi dài 20cm có bọc vải màu xanh), Đ1 (bạn của Á1) cầm 02 con dao mèo bằng kim loại (dài khoảng 50cm, lưỡi dài khoảng 40cm, chuôi dài khoảng 10cm) cùng Nguyễn Văn Đ, Trần Văn Á1, Nguyễn Văn H2, Đặng Văn H4, Trần Duy K1, Vũ Cảnh Đ1 và Bùi Văn H7 đi ra khu vực ngã ba đường X thuộc thôn H, xã N, thành phố N để gặp nhóm của Trần Duy A. Do Á1 và H7 có quen biết Duy A và Thế A1 nên đứng nói chuyện với nhau không để xảy ra xô sát; nhưng quá trình nói chuyện giữa nhóm của Q và nhóm của Duy A xảy ra cãi chửi nhau. K1 thấy cãi chửi nhau liền cầm 01 viên gạch ném về phía nhóm của Duy A, Đ1 (bạn của Á1) cầm dao mèo chạy về phía nhóm của Duy A chém nhưng không trúng, Đ chửi “Đ.M thằng nào chém em tao” và giật lấy chiếc kiếm Q đang cầm trên tay chạy đến chém về phía nhóm của Duy A. Duy A và Thế A1 cũng lấy dao đã chuẩn bị sẵn từ trong người ra chém về phía Đô. Hai bên cầm dao, kiếm đuổi đánh nhau trên đường, Đ cầm kiếm chém 01 phát trúng vào bắp tay bên trái của Duy A, Duy A cầm dao chém 01 phát trúng vào ngón tay của Đ làm Đ ngã xuống đường và rơi thanh kiếm ra khỏi tay. Duy A và Thế A1 cầm dao lao vào chém về phía Đ nhưng không trúng. Lúc này Q nhặt 01 viên gạch ném về phía nhóm của Duy A, H4 cầm 01 chiếc xô nhựa, H2 cầm 01 chiếc ghế nhựa nhặt ở vỉa hè phang về phía nhóm của Duy A, Đ1 (bạn của Á1) cầm dao chạy đuổi đánh chém về phía nhóm của Duy A thì Duy A và Thế A1 bỏ chạy. K1 tiếp tục nhặt 02 viên gạch ném về phía nhóm của Duy A. Đ nhặt thanh kiếm vừa bị rơi lao vào đuổi chém Duy A, Duy A bị trượt chân ngã xuống đường. Đ cầm kiếm lao về phía Duy A chém trúng vào bắp tay trái của Duy A, Duy A cũng cầm dao chém về phía Đ nhưng không trúng; Duy A tiếp tục đuổi theo chém trúng vào đầu của Đ thì Đ bỏ chạy, Duy A cầm dao đuổi theo chém nhưng không trúng. Thấy Đ bị chém, H2 cầm ghế nhựa phang về phía Duy A, Đ1 (bạn của Á1) cầm dao đuổi đánh Duy A, Thế A1 chạy vào chém về phía Đ. Đ chạy vào vỉa hè làm rơi thanh kiếm xuống đường và chạy về phía phòng trọ của Q; hai bên không đuổi đánh nhau nữa. H2 nhặt thanh kiếm của Đ đánh rơi thì nhìn thấy Đ1 (bạn của Á1) cầm dao nên tưởng Đ1 là nhóm người bên Duy A, H2 cầm kiếm chém về phía Đ1 nhưng không trúng, H4 cũng nhặt 02 viên gạch ném về phía Đ1 nhưng không trúng. Lúc này có người hò lên “Anh ơi người bên mình” nên H2 và H4 dừng lại. Trong quá trình xảy ra xô xát, nhóm của Q và nhóm của Duy A đã hò hét, chửi bới, sử dụng hung khí đuổi đánh nhau. Còn Bùi Văn H7 là người vào can ngăn, không tham gia đánh nhau, không chửi bới hò hét; Vũ Cảnh Đ1 không tham gia đánh nhau, không chửi bới hò hét. Sau đó nhóm của Q đi về cất hung khí tại phòng trọ của Q, còn nhóm của Duy A đi taxi đến Bệnh viện Q1 - Quân đoàn 12 sơ cứu vết thương, sau đó đi điều trị tại Bệnh viện V - Hà Nội.

Hậu quả: Nguyễn Văn Đ bị đa vết thương vùng đầu mặt, vết thương ngón 2 tay trái được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N. Trần Duy A bị thương đứt xương cánh tay, vết thương bắp tay, ngón tay trái.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã thu giữ 01 thanh kiếm bằng kim loại (dài khoảng 01m, lưỡi dài 80cm, chuôi dài 20cm có bọc vải màu xanh); 01 vỏ bao kiếm dài 70cm; 02 con dao mèo bằng kim loại (dài khoảng 50cm, lưỡi dài khoảng 40cm, chuôi dài khoảng 10cm), 01 vỏ túi đựng vợt cầu lông màu cam; 01 ghế nhựa màu đỏ bị gãy; 01 mảnh nhựa màu đỏ; 02 viên gạch màu đỏ; 03 viên gạch màu xám xi măng.

Quá trình điều tra Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ đã viết đơn xin đầu thú.

Tại bản Cáo trạng số: 120/CT-VKS ngày 08/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 18/3/2024.

- Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 26 tháng tù đến 28 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 18/3/2024.

- Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 từ 24 đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 52 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Duy K1 từ 24 đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 52 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn H4 từ 24 đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 52 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm bằng kim loại có chiều dài 01m, lưỡi dài 80cm, chuôi dài 20cm được quấn vải màu xanh; 01 vỏ đựng kiếm dài 70cm; 02 con dao mèo bằng kim loại (dài khoảng 50cm, lưỡi dài khoảng 40cm, chuôi dài khoảng 10cm), 01 vỏ đựng vợt cầu lông màu cam; 01 ghế nhựa màu đỏ bị gãy; 01 mảnh nhựa màu đỏ; 02 viên gạch màu đỏ; 03 viên gạch màu xám xi măng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

- Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Các bị cáo không có ý kiến gì với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình.

Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường; vật chứng đã thu giữ; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 21 giờ ngày 16/3/2024, tại khu vực ngã ba đường X thuộc thôn H, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, do mâu thuẫn cá nhân nên Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 đã hò hét, chửi bới, sử dụng hung khí đuổi đánh nhau với Trần Duy A và Nguyễn Thế A1 gây hoang mang, lo sợ cho người dân.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động đi lại, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng. Các bị cáo đều là những người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Biết rõ việc sử dụng hung khí đuổi đánh nhau gây thương tích cho người khác và hành vi hò hét, chửi bới nhau trên đường là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố các bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Phạm Văn Q bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau, đã được xoá, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã bị xử phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, đã được xoá án tích; các bị cáo Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 đều chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Quá trình điều tra bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ đã viết đơn xin đầu thú. Các bị cáo Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, nên các bị cáo đều được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Các bị cáo phạm tội với vai trò là đồng phạm giản đơn, không mang tính tổ chức, không mang tính chuyên nghiệp. Vì vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng bị cáo cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tương xứng với hành vi của mỗi bị cáo gây ra. Trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo như sau:

Đối với bị cáo Phạm Văn Q là người khởi xướng, chuẩn bị và mang theo hung khí, hò hét chửi bới, sử dụng hung khí để đánh nhóm khác, do đó bị cáo Q phải chịu trách nhiệm về hình phạt cao nhất trong vụ án.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ là người sử dụng hung khí hò hét chửi bới, trực tiếp dùng thanh kiếm chém Duy A. Bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm về hình phạt sau bị cáo Q.

Các bị cáo Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 là những người dùng ghế nhựa, gạch hò hét chửi bới, ném về phía nhóm Duy A nhưng không trúng vào ai và không gây thương tích cho ai. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau và sau bị cáo Q, bị cáo Đ.

Xét thấy cần buộc các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ phải chịu mức hình phạt tù cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

Các bị cáo Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo tự cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ răn đe, phòng ngừa. Việc cho bị cáo cải tạo tại địa phương không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 01m, lưỡi dài 80cm, chuôi dài 20cm có bọc vải màu xanh; 01 vỏ bao kiếm dài 70cm; 02 con dao mèo bằng kim loại dài khoảng 50cm, lưỡi dài khoảng 40cm, chuôi dài khoảng 10cm; 01 vỏ túi đựng vợt cầu lông màu cam; 01 ghế nhựa màu đỏ bị gãy; 01 mảnh nhựa màu đỏ; 02 viên gạch màu đỏ; 03 viên gạch màu xám xi măng, là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với Trần Duy A và Nguyễn Thế A1, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập nhưng Thế A1 và Duy A hiện không có mặt tại nơi cư trú, không biết hiện nay đang ở đâu. Căn cứ lời khai của Duy A xác định Trần Văn Á1 có hành vi cầm 01 con dao đuổi đánh nhóm Duy A nhưng Á1 xác định không có sự việc trên, do Duy A và Thế A1 hiện đang bỏ trốn nên chưa có căn cứ xử lý đối với Á1. Đối với người thanh niên tên Đ1 (là bạn của Á1), Á1 không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của Đ1. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tách phần tài liệu liên quan đến Trần Duy A, Nguyễn Thế A1, Trần Văn Á1 và Đ1 để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

Đối với hành vi của Trần Duy A dùng dao chém gây thương tích cho Nguyễn Văn Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có Kết luận giám định. Đối với hành vi của Nguyễn Văn Đ dùng kiếm chém gây thương tích cho Trần Duy A, hiện Duy A đang bỏ trốn, chưa có đơn đề nghị đối với thương tích của mình. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tách phần tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

Đối với Bùi Văn H7 là người vào can ngăn, không tham gia đánh nhau, không chửi bới hò hét; Vũ Cảnh Đ1 không tham gia đánh nhau, không chửi bới hò hét. Vì vậy, Bùi Văn H7 và Vũ Cảnh Đ1 không vi phạm.

Đối với 01 chiếc ghế nhựa, 01 chiếc xô nhựa và những viên gạch các đối tượng đã nhặt tại vỉa hè để đánh nhau. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Bùi Hữu Đ3 sinh năm 1949 trú tại số nhà C, đường X, thôn H, xã N, thành phố N. Ông Đ3 xác định những tài sản trên là đồ cũ ông Đ3 bỏ đi để trước cửa nhà và không có giá trị sử dụng, ông Đ3 không có yêu cầu đề nghị gì. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét về trách nhiệm dân sự của các bị can đối với các tài sản của ông Đ3. HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

1.1. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 18/3/2024.

1.2. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 18/3/2024.

1.3. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

1.4. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Duy K1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

1.5. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn H4 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm bằng kim loại có chiều dài 01m, lưỡi dài 80cm, chuôi dài 20cm được quấn vải màu xanh; 01 vỏ đựng kiếm dài 70cm; 02 con dao mèo bằng kim loại (dài khoảng 50cm, lưỡi dài khoảng 40cm, chuôi dài khoảng 10cm), 01 vỏ đựng vợt cầu lông màu cam; 01 ghế nhựa màu đỏ bị gãy; 01 mảnh nhựa màu đỏ; 02 viên gạch màu đỏ; 03 viên gạch màu xám xi măng.

Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H2, Trần Duy K1 và Đặng Văn H4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND TP Ninh Bình;
  • - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình;
  • - Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 129/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Q và đồng phạm phạm tội "Gây rối trật tự công cộng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger