Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 129/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Minh Thêu
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Bùi Thanh Nhiến
Bà Ngô Thị Như Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

An Đình P (tên gọi khác: không), sinh ngày 04 tháng 5 năm 1948 tại Hưng Yên

Nơi cư trú: tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông An Đình P1, con bà Trần Thị L (đều đã chết); Có vợ là: Nguyễn Thị H, sinh năm 1949; có 03 con: lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất sinh năm 1979.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Đặng Thắng C, sinh năm 1977. Nơi ĐKHKTT: xóm K, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Chỗ ở hiện nay: tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

An Đình P, sinh năm 1948 trú tại: ngõ C, đường H, tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình là hàng xóm của chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1977 hiện đang sinh sống cùng anh Đặng Thắng C, sinh năm 1977 có hộ khẩu thường trú tại: xóm K, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Trong quá trình sinh sống anh C và P có nhiều lần xảy ra mâu thuẫn với nhau về việc xử lý nước thải của nhà chị Lan A.

Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 09/7/2019, An Đình P ngủ dậy thấy nước thải sinh hoạt của gia đình chị Lan A đang chảy xuống trước cửa nhà mình nên đi ra trước cửa nhà chị Lan A mục đích để nói chuyện với chị Lan A và anh C về việc nước thải đang chảy sang nhà mình. Tại đây, An Đình P gặp anh C đang bê đồ lên xe ô tô BKS 29A-063.86 thì hai bên xảy ra cãi chửi nhau, anh C bỏ đi vào trong nhà đóng cửa lại. Lúc này, do bực tức nên An Đình P đi về phía sau vườn nhà mình, xách một xô nước thải loại xô 20 lít đi về phía xe ô tô BKS 29A-063.86 của anh C đang mở cốp phía sau, P hất toàn bộ nước thải trong xô vào bên trong xe ô tô, làm cho toàn bộ ghế ngồi, trần xe và nội thất bên trong bám dính chất thải. Sau khi đổ nước thải, P đi vào kho đồ của gia đình mình lấy một hộp sơn màu trắng bạc đi về phía xe của anh C và dùng tay hắt sơn lên phần nóc, nắp capo và sườn bên trái của xe ô tô sau đó đi về nhà. Anh C sau đó đến cơ quan Công an trình báo sự việc trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 70/HĐ-ĐGTS ngày 29/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: Trần xe bám dính chất bẩn, bị hư hỏng phải thay thế, giá trị tài sản là: 15.000.000 đồng. Các ghế xe bán dính chất bẩn, bị hư hỏng phải thay thế phần da bọc ghế, giá trị tài sản là: 8.000.000 đồng. Toàn bộ phần thân xe bên trái (bên ghế lái) diện tích khoảng 2,65 x1,11m; một phần nắp capo xe 0,9 x1,1m, kính chắn gió phía trước 0,6 x 0,7m; mui xe 1,3 x 0,6m bám dính sơn màu xám bạc, bị hư hỏng phải sơn mới, giá trị tài sản là 14.000.000 đồng. Tháo gỡ và vệ sinh toàn bộ nội thất trong xe bám dính chất bẩn là 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản hư hỏng là 39.000.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe ô tô BKS 29A-063.86, nhãn hiệu FORD, số loại Everest-UV9R; 01 xô nhựa màu trắng; 01 vỏ hộp sơn bằng kim loại.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đặng Thắng C yêu cầu bị cáo An Đình P phải bồi thường thiệt hại số tiền 39.000.000 đồng do tài sản bị hư hỏng. Hiện bị cáo chưa bồi thường.

Cáo trạng số 123/CT-VKSLS ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo An Đình P về tội: Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s, o khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại 39.000.000 đồng cho anh Đặng Thắng C do tài sản bị hư hỏng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Bị cáo An Đình P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng bị cáo nói bị cáo bị oan, bị cáo chỉ thực hiện hành vi để bảo vệ mình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo An Đình P khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm dấu vết phương tiện, kết luận định giá tài sản và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 07 giờ ngày 09/7/2019 do có mâu thuẫn về cách xử lý nước thải với gia đình hàng xóm là anh Đặng Thắng C bị cáo đã hất một xô chất thải vào bên trong xe ô tô của anh C, sau đó bị cáo dùng một hộp sơn màu xám bạc dùng tay hắt sơn lên phần nóc, nắp capo và sườn bên trái xe ô tô của anh C, tổng giá trị tài sản thiệt hại là 39.000.000 đồng. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố H, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:

An Đình P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc hất nước thải, hắt sơn vào xe của bị hại sẽ dẫn đến hư hỏng nhưng vì mâu thuẫn, bực tức từ trước bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi, dẫn đến hậu quả xe ô tô của anh Đặng Thắng C bị hư hỏng, tổng giá trị tài sản thiệt hại là 39.000.000 đồng. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự ở địa phương. Do vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi bị cáo thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo hiện đã 77 tuổi. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có một phần lỗi của bị hại, anh C đã được tổ dân phố họp, lập biên bản nhắc nhở về việc xử lý nước thải tránh tình trạng ảnh hưởng đến hàng xóm, nhưng anh C chưa khắc phục dẫn đến việc bị cáo bức xúc và thực hiện hành vi phạm tội.....đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s, o khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, luôn chấp hành tốt các chính sách tại địa phương nơi cư trú; bị cáo tuổi đã cao. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý cũng cải tạo được bị cáo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không trái với quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo việc cho bị cáo hưởng án treo không trái với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đã hết tuổi lao động. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Đặng Thắng C yêu cầu bị cáo An Đình P phải bồi thường thiệt hại do ô tô BKS 29A-063.86 bị hư hỏng theo Kết luận định giá số 70/HĐ-ĐGTS ngày 29/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H: giá trị thiệt hại tài sản là 39.000.000 đồng. Yêu cầu của anh C là có cơ sở nên buộc bị cáo An Đình P phải bồi thường thiệt hại cho anh Đặng Thắng C là 39.000.000 đồng.

[7] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với xe ô tô BKS 29A-063.86, nhãn hiệu FORD, số loại Everest-UV9R màu sơn đen đã được trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 43 ngày 01/8/2019 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

- Đối với 01 chiếc vỏ xô nhựa màu trắng, cao 40cm, đường kính 30cm, nắp màu vàng, quai xách bằng kim loại; 01 vỏ hộp sơn bằng kim loại, vỏ màu xanh trắng, tên sơn sắt mã kẽm, cao 15cm, đường kính 10cm, xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo An Đình P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo An Đình P phạm tội: Cố ý làm hư hỏng tài sản.

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo An Đình P 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo An Đình P cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo An Đình P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự.

    Buộc bị cáo An Đình P phải bồi thường cho bị hại anh Đặng Thắng C số tiền: 39.000.000 (Ba mươi chín triệu) đồng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu, tiêu hủy:

    • 01 (một) chiếc vỏ xô nhựa màu trắng, cao 40cm, đường kính 30cm, nắp màu vàng, quai xách bằng kim loại, tình trạng đã qua sử dụng.
    • 01 (một) vỏ hộp sơn bằng kim loại, vỏ màu xanh trắng, tên sơn sắt mạ kẽm, cao 15cm, đường kính 10cm, tình trạng đã qua sử dụng.

    (Chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 137/BB/24 ngày 04/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.)

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo An Đình P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.950.000 (Một triệu, chín trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Sở tư pháp tỉnh HB;
  • - VKSND TPHB;
  • - CA TPHB;
  • - Chi cục THA TPHB;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - UBND P. Hữu Nghị;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Thêu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 129/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: An Đình Phăng 178
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger