|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 129/2023/HS-ST
Ngày: 23-10-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ninh Văn Trung.
Ông Tạ Văn Doanh.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 112/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nịnh Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 2001 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Cao Lan; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Nịnh Văn T1, sinh năm 1979; Con bà: Trạc Thị Đ, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có
Tiền sự, tiền án: Không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giam từ ngày 04/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).
* Bị hại:
Chị Lãnh Thị V, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hồ Tất V1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Đỗ Văn G, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang. - Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Ông Nịnh Văn T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Lục Văn N, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Tống Văn L, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi trưa ngày 13/5/2023, Nịnh Văn T, sinh năm 2001, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, mượn 01 chiếc xe mô tô HONDA Vision, màu đỏ nâu – đen, biển số 98L1-188.68 của chị dâu là chị Lãnh Thị V, sinh năm 2003 ở cùng nhà với T để đi mua thuốc lá. Sau khi mua thuốc lá xong, T nảy sinh ý định mang đi cầm cố chiếc xe trên lấy tiền chi tiêu cá nhân. T rủ Lục Văn N, sinh năm 2003 ở cùng thôn đi ra xã B chơi, đến nơi T rủ N đi tìm địa điểm cầm cố xe mô tô biển số 98L1-188.68. Khi đi đến quán sửa chữa xe mô tô của anh Hồ Tất V1, sinh năm 1983, trú tại thôn A, xã T, huyện L, N đứng ngoài cửa, T vào quán gặp và hỏi anh V1 có nhận cầm cố xe mô tô trên không. T nói dối tên mình là Nịnh Văn H (anh H là anh trai của T, chồng của chị Lãnh Thị V); Anh V1 đồng ý nhận cầm cố chiếc xe trên với giá 10.000.0000đ, hẹn 01 tháng sau thì T chuộc lại. Hai bên viết giấy mua bán xe, ghi tên người bán trong giấy bán xe là Nịnh Văn H, giấy bán xe do anh V1 giữ. T thấy trong cốp xe có 01 giấy đăng ký xe biển số 98L1-188.68 mang tên Lãnh Thị V, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe cùng mang tên Nịnh Văn H nên đã lấy đưa cho anh V1 01 giấy đăng ký xe và 01 căn cước công dân, T giữ lại 01 giấy phép lái xe. Sau khi nhận được số tiền 10.000.000đ, T cùng N đi chơi. Sáng ngày 15/5/2023, T rủ thêm Tống Văn L, sinh năm 2000, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L cùng đi xuống thành phố B chơi. Khi đến thành phố B, N đi về trước, còn L ở lại chơi cùng T. Khoảng vài ngày sau, T tiêu hết số tiền trên nên gọi điện cho anh V1, đề nghị anh V1 cho thêm 2.000.000₫ tiền cầm cố nữa. Anh V1 đồng ý và chuyển khoản cho T. Anh V1 dùng tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M), số tài khoản 0862009887, mang tên Nông Thị A (vợ anh V1) chuyển 2.000.000đ và tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần V2 (V3), số tài khoản 0373042881 mang tên Nịnh Văn T. Sau khi nhận được 2.000.000₫ T lại tiêu hết số tiền này. Tống Văn L nói lại cho T biết có anh Đỗ Văn G, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã V, huyện V, muốn mua lại chiếc xe mô tô biển số 98L1-188.68 với giá 20.000.000đ. Sau đó anh G gọi điện cho T để thoả thuận mua xe, T đồng ý bán với giá 20.000.000đ. Ngày 20/5/2023, L nói với anh G xe đang cầm cố ở L, bảo anh G đi chuộc về. Anh G bảo anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1999, trú tại thôn T, xã T, huyện L là nhân viên quán game của anh G đi cùng L và T đi chuộc xe. T cùng L, anh T2 đi đến quán của gia đình anh V1 để chuộc xe. Anh V1 yêu cầu đưa 13.000.000đ để chuộc xe. Anh T2 đã trả cho anh V1 13.000.000đ để lấy xe. Anh V1 giao xe và giấy đăng ký xe cho anh T2, còn căn cước công dân và giấy phép lái xe mang tên Nịnh Văn H, T gửi qua đường bưu điện về nhà cho chị V. Sau đó, anh T2 đi chiếc xe mô tô biển số 98L1-188.68 về quán anh G. T liên hệ với anh G đề nghị chuyển khoản cho T 2.000.000đ vào tài khoản ngân hàng của T. Anh G đồng ý và bảo anh T2 chuyển khoản cho T. Tiền dùng tài khoản Ngân hàng M, số tài khoản 04686869999, mang tên Hoàng Văn T2 chuyển vào tài khoản ngân hàng V3 số tài khoản số tài khoản 0373042881, mang tên Nịnh Văn T số tiền 2.000.000đ. Mấy ngày sau, T và L đến quán game của anh G ở xã V, huyện V lấy thêm số ti ền 5.000.000đ, được anh G trả tiền mặt 2.000.000đ và chuyển khoản 3.000.000đ từ số tài khoản 666662531993, ngân hàng M mang tên Đỗ Văn G chuyển vào số tài khoản 0373042881 mang tên Nịnh Văn T. T viết giấy bán xe cho anh G, ghi tên người bán và ký tên người bán trong giấy bán xe là Nịnh Văn H. Sau đó T cùng L đi chơi. Tối cùng ngày L đi về nhà, còn T ở lại gặp Dương Văn C, sinh năm 2002 ở cùng thôn và cùng C đi chơi. Vài ngày sau T chi tiêu hết tiền, không có khả năng trả lại tài sản cho chị V, sau đó đi về nhà.
Ngày 21/6/2023, Cơ quan điều tra ra yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô HONDA Vision, biển số 98L1-188.68. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 97/KL-HĐ ngày 23/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 xe mô tô HONDA Vision, màu đỏ nâu – đen, biển số 98L1-188.68 trị giá 35.000.000đ.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Nịnh Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.
Tại bản Cáo trạng số 114/KSĐT ngày 28 tháng 9 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nịnh Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 175; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nịnh Văn T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/7/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nịnh Văn T.
Bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đúng quy định của pháp luật.
- [2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng tang vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Ngày 13/5/2023, tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, Nịnh Văn T mượn xe mô tô HONDA Vision, biển số 98L1-188.68 của chị dâu là chị Lãnh Thị V để đi mua thuốc lá. Sau khi mua thuốc lá xong, T nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe trên để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Cùng ngày, tại quán của anh Hồ Tất V1 ở thôn A, xã T, huyện L, T cầm cố chiếc xe trên cho anh V1 với số tiền 10.000.000đ. Khoảng mấy ngày sau, T yêu cầu anh V1 chuyển thêm cho 2.000.000đ. Ngày 20/5/2023, T bán chiếc xe trên cho anh Đỗ Văn G với giá 20.000.000đ, anh G Nhờ anh Hoàng Văn T2 đưa cho anh V1 13.000.000đ để chuộc xe và trả thêm cho T 7.000.000đ. Số tiền cầm cố và bán xe có được, Nịnh Văn T đã chi tiêu hết, không có khả năng trả lại tài sản cho chị V. Kết quả định giá tài sản xác định chiếc xe mô tô HONDA Vision biển số 98L1-188.68 có trị giá ở vào thời điểm là 35.000.000 đồng”.
- [3] Hành vi nêu trên của Nịnh Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
- [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương; Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
- [5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- [6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được xem xét theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [7] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo ngang nhiên lạm dụng sự tín nhiệm của chính thành viên trong gia đình để chiếm đoạt tài sản có giá trị tương đối lớn, lại thường xuyên có biểu hiện gây mất trật tự trị an tại địa phương, điều đó chứng tỏ là người khó giáo dục, coi thường pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có phần nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
- [8] Lời khai ban đầu T khai khi đi chơi cùng N, L, C có sử dụng ma tuý cùng những người này. Sau đó T thay đổi lời khai, khai không sử dụng ma tuý. Lục Văn N và Dương Văn Công k không sử dụng ma tuý cùng T. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Nịnh Văn T, Lục Văn N, Dương Văn C về hành vi này.
- [9] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nịnh Văn T1, sinh năm 1979 là bố đẻ của Nịnh Văn T đã bồi thường thay cho Nịnh Văn T 35.000.000đ cho chị V. Chị V đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- [10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên cần miễn án phí cho bị cáo; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định cuả pháp luật.
Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là không có công việc ổn định, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định Nịnh Văn T không nói cho N, L, V1, G biết chiếc xe mô tô HONDA Vision biển số 98L1-188.68 là do T mượn của chị V. Lục Văn N, Hồ Tất V1, Đỗ Văn G đều không biết chiếc xe trên do phạm tội mà có. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Lục Văn N, Hồ Tất V1, Đỗ Văn G. Đối với Tống Văn L hiện không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, có căn cứ thì xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 175; Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nịnh Văn T 01 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/7/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nịnh Văn T.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phan Văn Thể |
Bản án số 129/2023/HS-ST ngày 23/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 129/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Nịnh Văn T
