|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 129/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-8-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Ngọc;
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 254/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/6/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/7/2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 98/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986; địa chỉ: số A đường số F, KDC B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: số A đường số F, KDC B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 10/6/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị sinh sống và làm việc tại phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay chị L xác định tình cảm giữa chị và anh T không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Việt A, sinh ngày 12/2/2008 và cháu Hoàng Việt N, sinh ngày 23/8/2014. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Hoàng Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bằng hình thức niêm yết công khai và yêu cầu anh Hoàng Văn T có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của chị Nguyễn Thị L nhưng anh T không có ý kiến cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án triệu tập anh T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia hòa giải vào ngày 16/7/2024 nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Đồng thời, cũng không có ý kiến, không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ gì để thể hiện anh T đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị L.
- Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn T tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường A và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, chị Nguyễn Thị L không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường A tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường A, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn T. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh, chị H liên hiệp phụ nữ phường A, không biết được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 16/7/2024 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 23/02/2007 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị L xác định quan hệ hôn nhân của anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập anh T đến Tòa án để hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T không đến. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn có cơ sở xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng và cả hai đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Việt A, sinh ngày 12/2/2008 và Hoàng Việt N, sinh ngày 23/8/2014. Tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “2. Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con...trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con...”. Tòa án đã triệu tập anh T để trình bày ý kiến về con chung nhưng anh T vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng. Xét, hiện cháu A và cháu N đang sinh sống ổn định cùng chị L; đồng thời hai cháu cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Để tránh làm xáo trộn môi trường sống, ảnh hưởng đến tâm sinh lý của các cháu nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu A và cháu N cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các cháu và quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu anh Hoàng Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét, đây là sự tự nguyện của chị L nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn, nuôi con của chị Nguyễn Thị L đối với anh Hoàng Văn T.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Hoàng Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn T (Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 23/02/2007).
-
Về con chung: Anh Hoàng Văn T giao con chung tên Hoàng Việt A, sinh ngày 12/2/2008 và Hoàng Việt N, sinh ngày 23/8/2014 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị L phải tạo điều kiện cho anh Hoàng Văn T thăm nom con, không ai có quyền cản trở anh Hoàng Văn T thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị L không yêu cầu anh Hoàng Văn T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001098 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
-
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
5
Bản án số 129/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 129/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
