|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:129/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/5/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tâm, ông Khuông Văn Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/3/2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1984; HKTT: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan (xin vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền nhận văn bản giấy tờ: Bà Vi Thị L – sinh năm 1962
Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
*Bị đơn: Anh Đào Quốc T, sinh năm 1981; HKTT: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai,văn bản ủy quyền, đơn đề nghị từ chối hòa giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 15/7/2013 chị có kết hôn với anh Đào Quốc T và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại Kép 1, Hồ N, L, Bắc Giang. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu chung sống hạnh phúc, khoảng năm 2016 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, chị và anh T không thể hòa hợp. Đến tháng 3/2019 chị C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, vợ chồng chị không còn liên lạc gì với nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị C đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Quốc T.
- Về con chung: Chị C và anh T có 01 con chung là Đào Quốc B, sinh ngày 12/7/2014. Hiện nay, cháu B đang do anh Trung trực t nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu B cho anh Trung trực t nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Theo biên bản lấy lời khai ngày 01/3/2024 - Bị đơn Đào Quốc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Đào Thị C1 năm 2013, kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng chung sống tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng chung sống đến năm 2019 chị C1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, sau đó chị C1 không về nữa. Nay chị C1 xin ly hôn thì anh đồng ý.
- Về con chung: Anh và chị C1 có 01 con chung là Đào Quốc B, sinh ngày 12/7/2014. Hiện nay con vẫn đang do anh chăm sóc nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn anh đồng ý nuôi cháu Đào Quốc B.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu chị C1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị C và anh Đào Quốc T xin xét xử vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn, bị đơn và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị C khởi kiện xin ly hôn và giải quyết về con chung với anh Đào Quốc T. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị C là người Việt Nam có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang và đang lao động tại Đài Loan; anh Đào Quốc T là người Việt Nam có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là vụ án có các đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn và bị đơn đều xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khỏa 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị C và anh Đào Quốc T.
[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Đào Quốc T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 15/7/2013 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh T.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị C với anh T, Hội đồng xét xử thấy: Chị C và anh T được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hòa thuận nhưng từ khi chị C đi xuất khẩu lao động thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh, chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Nay anh, chị không còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị C, anh T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cần xử cho chị C được ly hôn anh T là hoàn toàn phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[5]. Về con chung: Chị C và anh T có 01 con chung là: Đào Quốc B, sinh ngày 12/7/2014. Hiện tại cháu B đang ở cùng anh T. Chị C đề nghị giao con chung cho anh Trung trực tiếp nuôi dưỡng, anh T đồng ý nuôi dưỡng con chung là Đào Quốc B, sinh ngày 12/7/2014. Cháu B có nguyện vọng muốn ở với bố là anh T. Để đảm bảo điều kiện sinh hoạt và nguyện vọng của con chung, HĐXX thấy cần giao cháu Đào Quốc B cho anh Đào Quốc Trung trực t1 nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản, công nợ chung: Chị C, anh T không có tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000995 ngày 17/01/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo:
[9.1] Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị C đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. của pháp luật.
[9.2] Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C được ly hôn anh Đào Quốc T.
- Về con chung: Giao con chung là Đào Quốc B, sinh ngày 12/7/2014 cho anh Trung trực t1 nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn chị C2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở chị C thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000995 ngày 17/01/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Anh Đào Quốc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị C có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 129/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 129/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
