TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 129/2025/HS-ST Ngày 30/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Minh Hải, bà Đặng Thị Việt Hoài.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 30/12/2025 tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên ; địa chỉ: Số H H, phường T, tỉnh Hưng Yên và điểm cầu thành phần tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên; địa chỉ: Xã V, tỉnh Hưng Yên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 109/2025/TLST-HS ngày 12/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HS ngày 16/12/2025 đối với:
Bị cáo: Phạm Thọ P, sinh ngày 03/12/1987 tại tỉnh Hưng Yên (trước sáp nhập là tỉnh Thái Bình). Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Hưng Yên; Số Căn cước: [...], cấp ngày 25/12/2024, nơi cấp: Bộ C1; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Thọ N (đã chết) và bà Phạm Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên) xử phạt Phạm Thọ P 02 năm 03 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2023. Bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung ngày 14/11/2023, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/5/2025.
Nhân thân: Bị cáo có 2 lần bị kết án nhưng đã được xoá án tích:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 134/2014/HSST ngày 14/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên) xử phạt Phạm Thọ P 02 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2014. Bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung ngày 07/10/2014, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2016.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2017/HSST ngày 12/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên) xử phạt Phạm Thọ P 02 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2017. P chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung ngày 08/9/2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/8/2019.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/9/2025 đến ngày 30/9/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh H.
(Có mặt tại điểm cầu thành phần).
- Người chứng kiến:
- + Ông Đào Văn T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Số nhà H, phố N, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên;
- + Ông Lê Thanh T2, sinh năm 1970; địa chỉ: Số nhà H, đường P, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên.
(Những người chứng kiến đều vắng mặt)
* Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
Ông Lương Duy L - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên;
Ông Đỗ Mạnh H - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 23/9/2025, Phạm Thọ P đi bộ ra đường quốc lộ 39A thuê xe ôm của người nam giới không quen biết đi đến khu vực đường liên xã thuộc xã H, tỉnh Hưng Yên để tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, P xuống xe, đi bộ, gặp và mua của người nam giới khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 (một) túi nilon trong suốt, có mép cài viền màu đỏ, bên trong chứa 06 gói bằng giấy bạc, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột, màu trắng dạng cục, P xác định là ma túy, loại Heroine với giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau đó, P bỏ túi nilon chứa các gói ma túy vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc và đi bộ về nhà. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/9/2025, P cất giấu túi ma túy ở túi quần phía trước bên phải, đi bộ tìm nơi để sử dụng. Khi P đi đến khu vực đường B, tổ G, phường T, tỉnh Hưng Yên, bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phối hợp với Công an phường T, tỉnh Hưng Yên phát hiện nghi vấn P có liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Đào Văn T1 và ông Lê Thanh T2, P tự nguyện lấy túi ma túy từ túi quần phía trước, bên phải đang mặc giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là ma túy, loại H1 cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã đưa P cùng tang vật, mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường T, tỉnh Hưng Yên lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ theo quy định của pháp luật và trưng cầu giám định vật chứng quản lý của Phạm Thọ P.
Kết luận giám định số 1308/KL-KTHS ngày 29/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu vật quản lý của Phạm Thọ P gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,5001 gam (không phẩy năm nghìn không trăm linh một gam).
Cáo trạng số 59/CT-VKSVT ngày 11/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên truy tố bị cáo Phạm Thọ P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 5 - Hưng Yên giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thọ P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thọ P từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ; phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo được hoàn trả sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên đã truy tố, không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H lập ngày 24/9/2025 tại trụ sở Công an phường T, tỉnh Hưng Yên; Biên bản lấy mẫu nước tiểu và niêm phong; Kết luận giám định số 1308/KL-KTHS ngày 29/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh H; Lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/9/2025, tại khu vực đường B, tổ G, phường T, tỉnh Hưng Yên; Phạm Thọ P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5001 gam ma túy, loại Heroin, mục đích để sử dụng, bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo Phạm Thọ P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung bởi Luật số 86/2025/QH15 được Quốc Hội thông qua ngày 25/6/2025.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
......
c) Heroine, C, M, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
......
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi mà bị cáo P đã thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ người sử dụng, là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý, biết rõ việc Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng do nghiện ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc để cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Phạm Thọ P có nhân xấu, đã 03 lần bị Toà án kết án về tội phạm liên quan đến ma túy, trong đó có 02 lần được xoá án tích, còn 01 bản án chưa được xoá án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm”, vì vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo Phạm Thọ P phải cải tạo cách ly đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo bị cáo tái phạm về tội phạm liên quan đến ma tuý, vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo với mức 5.000.000 đồng để tăng cường răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Không chấp nhận đề nghị về việc miễn áp dụng hình phạt bổ sung của bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Số ma túy quản lý của bị cáo Phạm Thọ P hoàn lại sau giám định thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.
[8] Các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người bán ma túy cho Phạm Thọ P vào 15 giờ ngày 23/9/2025, bị cáo khai mua của người nam giới không quen biết, khoảng 50 tuổi tại khu vực đường liên xã H, tỉnh Hưng Yên, bị cáo không biết tên, địa chỉ người đó nên không có căn cứ xử lý.
[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phạm Thọ P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Thọ P 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 24/9/2025.Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu của bị cáo Phạm Thọ P 0,4422 gam ma túy loại Heroine cùng bao gói được hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1308/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh H để tiêu huỷ (Vật chứng đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Hưng Yên quản lý tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/12/2025).4. Về án phí:
Bị cáo Phạm Thọ P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Phạm Thọ P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/12/2025).Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Bình |
Bản án số 129/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 129/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Thọ P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
