Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2025/DS-PT

Ngày 09 - 6 - 2025

V/v: Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua

bất động sản liền kề và yêu cầu huỷ hợp đồng thuê đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Thành Ý
Bà Lê Thị Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà:

Bà Đặng Kim Quang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 tháng 5 và ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2025/TLPT - DS ngày 05 tháng 3 năm 2025 về việc: Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề và yêu cầu huỷ hợp đồng thuê đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 93/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 73/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 28/QĐ-PT ngày 22 tháng 5 năm 2025 và Thông báo về thời gian mở lại phiên tòa số 06/TB-TA ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn K; địa chỉ cư trú: Ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có mặt);

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Thanh V (có mặt);
  2. Chị Nguyễn Thị Kim N (có mặt);

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Bích T (có mặt);
  2. Anh Nguyễn Hữu C (vắng mặt);
  3. Bà Nguyễn Ngọc H (có mặt);

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim N, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/9/2023 và các đơn khởi kiện bổ sung ngày 21/5/2024 (BL 12, 131-133, 204), tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Lê Văn K có phần đất thuộc thửa 939, toạ lạc tại ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang, thửa đất này có nguồn gốc là do ông K nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn C1 (đã được biến động sang tên cho ông Lê Văn K đứng tên từ năm 2012); theo ông K thì phần đất của ông K nằm phía trong, bị bao bọc bởi đất của các bị đơn ông Nguyễn Thanh V và chị Nguyễn Thị Kim N. Do không có lối đi ra lộ, nên năm 2012 ông K có thuê phần đất của ông V chiều ngang 01 mét, chiều dài đến đất của gia đình ông K, giá thuê 20.000.000đồng, thời hạn thuê đi suốt đời, ông K đã giao đủ số tiền 20.000.000đồng, trong hợp đồng ông V đảm bảo cho gia đình ông K đi lại thuận tiện và tạo điều kiện dễ dàng để ông K vận chuyển trái cây, hoà màu, và cam kết nếu ai tranh cản thì ông V hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật, việc thoả thuận này vợ con ông V đều đồng ý; ông K đã nhận đường đi từ năm 2012 đến nay thì ông V không cho đi nữa, lý do các bị đơn không cho đi là không cho đẩy xe rùa và không cho ai khác đi vô đất; ông K thuê người vào hái trái cây thì ông V ngăn cản không cho đi, gây khó khăn trong quá trình đi lại. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc ông Nguyễn Thanh V phải nhường cho nguyên đơn một lối đi thuận tiện để canh tác có chiều ngang 01m, dài khoảng 102m, từ lộ ô tô đến đất của ông K.
  2. Buộc ông Nguyễn Thanh V, chị Nguyễn Thị Kim N và anh Nguyễn Hữu C mở cho ông K một lối đi chiều ngang 01 mét (theo kết quả đo đạc thực tế) và chiều dài 104m, ngay tại lối đi mà ông K đã thuê.
  3. Buộc ông Nguyễn Thanh V, chị Nguyễn Thị Kim N và anh Nguyễn Hữu C mở cho ông K một lối đi chiều ngang 1,1 mét, chiều dài từ lộ ô tô đến đất của ông K.
  4. Yêu cầu ông Nguyễn Thanh V trả lại số tiền thuê đất 20.000.000đồng.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Thanh V (do anh Nguyễn Hà L đại diện) trình bày: Nguồn gốc đất này là của ba mẹ anh là ông Nguyễn Thanh V, ông V đã cho chị Nguyễn Thị Kim N (con ông V); trước đây, đất ruộng của ông Lê Văn K nằm ở phía trong, không có lối đi ra lộ; năm 2012, ông V có cho gia đình ông K thuê đất làm lối đi chiều ngang 01 mét, chiều dài đến đất ông K, giá thuê 20.000.000đồng, đã nhận đủ số tiền này, ông K sử dụng từ năm 2012 đến nay. Nay ông K khởi kiện, gia đình ông V cũng yêu cầu huỷ hợp đồng cho thuê đất và đồng ý trả lại ông K số tiền 20.000.000đồng. Không đồng ý mở lối đi cho gia đình ông K theo yêu cầu khởi kiện. Do không đồng ý mở lối đi, nên không đồng ý với kết quả thẩm định giá trị tài sản tranh chấp của Công ty T3, và không yêu cầu thẩm định giá lại. Lý do, đất của gia đình không bán.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N trình bày: Chị N với anh L là anh em ruột; chị N thống nhất với lời trình bày và đề nghị của anh L.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang đã tuyên xử như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn K về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề có tổng diện tích là 105,9m², thuộc một phần thửa 2653, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN0273 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp ngày 18/12/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim N đứng tên.

Buộc bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Hữu C giao diện tích là 105,9m², thuộc một phần thửa 2653, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN0273 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp ngày 18/12/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim N đứng tên. Có tứ cận cụ thể:

  • Chiều ngang trước giáp phạm vi giải phóng mặt bằng là: 1,01 mét;
  • Chiều ngang sau giáp đất ông Lê Văn K là: 1,01 mét;
  • Chiều dài cạnh giáp thửa 2654 là: 106,05 mét;
  • Chiều dài cạnh giáp thửa 809 là: 105,74 mét.

(Kèm mảnh trích đo số 66-2024 ngày 11/7/2024 của Công ty TNHH Đ phát).

Buộc ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Bích T trả giá trị bằng tiền cho bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Hữu C số tiền 60.257.000đồng.

Huỷ hợp đồng thuê đất lập ngày 19/8/2012 giữa ông Nguyễn Thanh V, bà Nguyễn Ngọc H với ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị Bích T.

Ông Nguyễn Thanh V và bà Nguyễn Ngọc H tự nguyện trả cho ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị Bích T số tiền thuê đất là 20.000.000đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về việc chịu lãi chậm trả, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Đến ngày 13/9/2024, bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm: Sửa bản án dân sự sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ổn định cho chị N toàn bộ phần đất có diện tích 700m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 790840 - CN02723 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cấp ngày 18/12/2023 cho chị Nguyễn Thị Kim N đứng tên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, với lý do: Sau khi chị N cất nhà thì phần đất còn lại của chị N đang sử dụng chiều ngang còn nhỏ và giáp mương với đất bà Huỳnh Thị X, việc đi lại sẽ ảnh hưởng đến công trình nhà ở và cây trái; ông K có thể lựa chọ lối đi khác.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh V trình bày: Thống nhất hủy hợp đồng thuê đất ngày 19/8/2012, ông V với bà H đã trả cho ông K 20.000.000đ tiền thuê đất.

Nguyên đơn ông Lê Văn K trình bày: Lối đi này ông K đã sử dụng theo hợp đồng thuê đất từ năm 2012 đến nay và thuận lợi hơn so với các lối đi khác; đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu theo Bản án sơ thẩm đã giải quyết. Thống nhất hủy hợp đồng thuê đường đi ngày 19/8/2012, ông K thừa nhận đã nhận 20.000.000đ tiền thuê đất do ông Vũ G.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Bích T trình bày: Bà T là vợ ông K; do đó, bà T thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông K.
  2. Bà Nguyễn Ngọc H trình bày: Bà H là vợ ông V, là mẹ chị Nguyễn Thị Kim N; do đó, bà H thống nhất với lời trình bày của ông V và chị Nguyễn Thị Kim N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:

- Việc chấp hành pháp luật về tố tụng: Việc thụ lý, giải quyết vụ án và việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, cũng như ý thức chấp hành pháp luật của các đương sự là đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Theo biên bản xác minh ngày 28/5/2025 thì ông K còn có hai lối đi khác qua đất bà Huỳnh Thị X, ông Lê Văn T1 và ông Trần Văn G1 mà ít bị ảnh hưởng đến bất động sản của họ; còn lối đi qua đất chị N sẽ ảnh hưởng đến căn nhà và cây trái của chị N. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục kháng cáo: Vào ngày 30 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang đã ban hành bản án sơ thẩm; đến ngày 13/9/2024 bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N có đơn kháng cáo; đơn kháng cáo của bị đơn được làm trong thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; do đó, kháng cáo được coi là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về thẩm quyền: Nguyên đơn ông Lê Văn K khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N mở lối đi qua đất chị N và yêu cầu huỷ hợp đồng thuê đất giữa ông K với vợ chồng ông Nguyễn Thanh V, bà Nguyễn Ngọc H; yêu cầu ông V, bà H trả lại 20.000.000đồng tiền thuê đất. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang căn cứ khoản 3, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thụ lý, giải quyết tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề và tranh chấp hợp đồng thuê đất, là có căn cứ.
  3. Về xét xử vắng mặt đương sự: Ngày 17/5/2024, anh Nguyễn Hữu C có đơn yêu cầu vắng mặt giải quyết, xét xử đến khi kết thúc vụ án (BL 31). Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt đương sự.
  4. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N mở lối đi qua đất chị N.
  5. Vào ngày 12/7/2012 ông Nguyễn Văn C1 được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số BE 311903 - CH01214, tại thửa đất số 939, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang có diện tích 2.077m², loại đất: Trồng lúa.
  6. Sau đó, ông Nguyễn Văn C1 chuyển nhượng cho ông Lê Văn K toàn bộ diện tích thửa 939; đến ngày 07/8/2012 được biến động sang tên cho ông Lê Văn K đứng tên.
  7. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông K cho rằng phần đất ông K thuê đường đi của ông V trước đây và yêu cầu mở lối đi là đất kênh Thủy lợi, có phần bờ của ông V là không có căn cứ; bởi lẽ, theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ (BL 27-28), Mảnh trích đo địa chính (BL 156-158) thì phần đất ông K yêu cầu mở lối đi nằm trong GCNQSDĐ do chị Nguyễn Thị Kim N đứng tên, còn phần mương giáp ranh với đất bà Huỳnh Thị X. Ngày 18/12/2023, chị Nguyễn Thị Kim N được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp GCNQSDĐ số DM790840-CN02723, tại thửa đất số 2653, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang có diện tích 700m², loại đất: Chuyên trồng lúa nước; phần đất này có nguồn gốc do ông Nguyễn Thanh V (cha chị N) tặng cho chị Nguyễn Thị Kim N. Về phía chị N không đồng ý với bản án sơ thẩm, bởi vì sau khi cất nhà thì phần đất trống còn lại có chiều ngang còn nhỏ (một bên vách nhà), còn một bên giáp mương thuộc phần đất của bà Huỳnh Thị X, việc mở lối đi cho ông K sẽ ảnh hưởng đến căn nhà và cây trái; ông K có thể lựa chọn lối đi khác thuận lợi hơn.
  8. Theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024, ngày 11/7/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Đo đạc bản đồ Tín Phát ghi nhận, phần đất ông K yêu cầu chị N mở lối đi thuộc vị trí số (I), có chu vi: Ngang trước phía lộ nhựa (giáp phạm vi giải phóng mặt bằng): 1,01m; ngang sau giáp thửa 939 của ông Lê Văn K: 1,01m; dài giáp thửa 809 của bà Huỳnh Thị X: 105,74m; dài cạnh vị trí số (II) giáp thửa 2653 của chị N: 106,05m; diện tích: 105,9m², thuộc thửa 2653, tờ bản đồ số 07, thuộc GCNQSDĐ số DM 790840 - CN02723 cấp ngày 18/12/2023 do chị Nguyễn Thị Kim N đứng tên. Về giá trị đất, để tính án phí có giá ngạch: Theo Chứng thư thẩm định giá số 235/2024/236/BĐS ngày 19/7/2024 của Công ty cổ phần T3 đã xác định giá đất (569.000đ/m² x 105,9m²) x 5% = 3.012.850₫ (làm tròn).
  9. Vào ngày 18 tháng 10 năm 2023 cấp sơ thẩm thụ lý vụ án; sau khi thụ lý vụ án thì chị N được ông V (cha ruột) tặng cho quyền sử dụng đất như đã nêu tại mục [7]; trước khi ông Vũ T2 cho chị N quyền sử dụng đất thì ông K đi qua đất của ông V theo hợp đồng thuê đất ngày 19/8/2012. Về phía ông K, sau khi Tòa án mở phiên họp thì ông K nhiều lần có đơn khởi kiện, thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện (BL 12, 131-133, 203-204 và 208-209), cấp sơ thẩm thụ lý nhiều lần, làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án; cấp sơ thẩm căn cứ yêu cầu của ông K và kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024, ngày 11/7/2024 của Công ty (TNHH) Đo đạc bản đồ Tín Phát để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, là chưa đủ căn cứ; do đó, Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ.
  10. Theo Biên bản xác minh ngày 28/5/2025 thì phần đất ông K đang quản lý, sử dụng giáp ranh với đất hàng năm khác (đất vườn) của bà Huỳnh Thị X, đất vườn của bà X giáp ranh với đất của chị N và có ngăn cách một con mương, đất bà X có cùng chiều dài từ đất ông K đi ra lộ ô tô, trên đất bà X không có công trình kiến trúc; phía sau đất của ông K thì ông K còn có thể đi qua đất ruộng của ông Lê Văn T1 và ông Trần Văn G1 để đi ra lộ nông thôn.
  11. Theo khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ. Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi..”. Như nhận định tại mục [9] và mục [10] nêu trên, ngoài yêu cầu đi qua đất chị N, thì ông K có quyền lựa chọn lối đi qua bất động sản khác mà ít gây ảnh hưởng đến lợi ích của họ; do đó, yêu cầu khởi kiện về lối đi của ông K đi qua đất chị N là không hợp lý, nên không được chấp nhận.
  12. Ông Lê Văn K yêu cầu hủy hợp đồng thuê đất và yêu cầu ông Nguyễn Thanh V với bà Nguyễn Ngọc H trả lại số tiền thuê đất: 20.000.000đ.
  13. 12.1] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thỏa thuận thống nhất huỷ hợp đồng thuê đất ngày 19/8/2012 giữa ông K bà T với ông V, bà H. Ông V, bà H tự nguyện trả lại 20.000.000 đồng tiền thuê đất cho ông K, đây là sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  14. 12.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/9/2024 ông V, bà H đã trả lại 20.000.000đ cho ông K, bà T, việc giao nhận có làm biên nhận và ký tên.
  15. Tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng của chị Nguyễn Thị Kim N, không chấp nhận yêu cầu mở lối đi của nguyên đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  16. Án phí dân sự phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm; căn cứ khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, thì chị Nguyễn Thị Kim N không phải chịu án phí.
  17. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ngày 17/10/2023, ông Lê Văn K nộp tạm ứng án phí 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) theo biên lai thu số 0002618 (BL 15, cấp sơ thẩm chưa xử lý là có thiếu sót, cấp phúc thẩm cần phải bổ sung cho đương sự).
  18. 15.1] Án phí về yêu cầu mở lối đi, không được Tòa án chấp nhận, như nhận định tại mục [8] nêu trên: Buộc ông Lê Văn K phải chịu số tiền 3.012.850₫ (Ba triệu không trăm mười hai ngàn tám trăm năm mươi đồng).

    Ông K được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 5.000.000đ (Năm triệu đồng) theo biên lai thu số 0002618, ngày 17/10/2023; 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003028, ngày 21/5/2024; 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003066, ngày 12/8/2024 và 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003060, ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Hậu Giang.

    Ông K còn được nhận lại 3.587.150₫ (Ba triệu năm trăm tám mươi bảy ngàn một trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu số 0002618, ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  19. 15.2] Án phí hủy hợp đồng thuê đất: Buộc ông Nguyễn Thanh V với bà Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) và án phí có giá ngạch là 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng), tổng cộng: 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng). Buộc ông Lê Văn K với bà Nguyễn Thị Bích T phải chịu 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng).
  20. Về chi phí tố tụng (thẩm định và định giá): số tiền tổng cộng 7.550.000đ, tại phiên tòa sơ thẩm ông K tự nguyện chịu số tiền này, nên ghi nhận.
  21. Những phần của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nên không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 2 Điều 148, Điều 293, Điều 300, khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Khoản 1 Điều 254, Điều 472 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn K đối với các bị đơn: ông Nguyễn Thanh V, bà Nguyễn Ngọc H và chị Nguyễn Thị Kim N về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề, thuộc thửa đất số 2653 (Đất chuyên trồng lúa nước), tờ bản đồ số 07, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 790840-CN02723 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 18/12/2023 cho chị Nguyễn Thị Kim N đứng tên.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn K về việc yêu cầu hủy hợp đồng thuê đất ngày 19/8/2012, giữa ông Nguyễn Thanh V, bà Nguyễn Ngọc H với ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị Bích T.
    1. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự về việc: Huỷ hợp đồng thuê đất ngày 19/8/2012, giữa ông Nguyễn Thanh V, bà Nguyễn Ngọc H với ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị Bích T.
    2. Ông Nguyễn Thanh V và bà Nguyễn Ngọc H tự nguyện trả cho ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị Bích T số tiền tiền thuê đất là 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng), các bên đã giao nhận xong (theo biên nhận ngày 20/9/2024);

    Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị yêu cầu thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Về yêu cầu mở lối đi: Buộc ông Lê Văn K phải chịu 3.012.850₫ (Ba triệu không trăm mười hai ngàn tám trăm năm mươi đồng).

      Ông K được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 5.000.000đ (Năm triệu đồng) theo biên lai thu số 0002618, ngày 17/10/2023; 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003028, ngày 21/5/2024; 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003066, ngày 12/8/2024 và 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003060, ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Hậu Giang.

      Ông K còn được nhận lại 3.587.150₫ (Ba triệu năm trăm tám mươi bảy ngàn một trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu số 0002618, ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

    2. Về án phí hủy hợp đồng thuê đất:

      Buộc ông Nguyễn Thanh V phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) và 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng), tổng cộng: 800.000₫ (Tám trăm ngàn đồng).

      Buộc ông Lê Văn K phải chịu 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng).

  4. Về chi phí tố tụng (thẩm định, đo đạc, định giá, trích lục hồ sơ) tổng cộng: 7.550.000đồng (Bảy triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng), ông Lê Văn K đã nộp xong.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim N được nhận lại 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 003078, ngày 16/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  7. Những phần của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 09/6/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND huyện C;
  • - CCTHADS huyện C;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HSVA; VT;

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2025/DS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề và yêu cầu huỷ hợp đồng thuê đất

  • Số bản án: 129/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề và yêu cầu huỷ hợp đồng thuê đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đến ngày 13/9/2024, bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm: Sửa bản án dân sự sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ổn định cho chị N toàn bộ phần đất có diện tích 700m2, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 790840 - CN02723 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành cấp ngày 18/12/2023 cho chị Nguyễn Thị Kim N đứng tên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger