|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 129/2025/DS-PT Ngày 03-3-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Minh Tấn. |
| Các Thẩm phán dân: | Bà Nguyễn Thị Huyền. |
| Ông Huỳnh Văn Luật. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 tháng 02 và ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 575/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 116/2024/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 564/2024/QĐPT-DS ngày 24/12/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1946; địa chỉ: tổ C, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Ngô Thanh T, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền ngày 20/4/2024); có mặt.
- - Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1969; địa chỉ: khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ trụ sở: khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Trịnh Phục M – Chức vụ: Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B (theo Văn bản ủy quyền ngày 10/5/2024; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ủy ban nhân dânphường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ trụ sở: khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Ngụy Công L1 – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND phường M; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1938; địa chỉ: khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- - Người làm chứng:
- Ông Huỳnh Văn N1, sinh năm 1968; địa chỉ: tổ A, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Châu Ngọc L2, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ H, ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- - Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Lang .
- - Viện Kiểm sát kháng nghị: Theo Quyết định kháng nghị số 40/QĐKN-VKS-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Lê Thị L và người đại diện theo hợp pháp của nguyên đơn bà Ngô Thanh T trình bày:
Bà Lê Thị L được UBND huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AK352880, số vào sổ H01385 ngày 06/9/2007 với 02 thửa đất số 61 và số 1012, cùng tờ bản đồ số 6, tại thị trấn (nay là phường ), huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Riêng thửa số 61 có diện tích là 4.156m²CLN. Bà Lê Thị L đã sử dụng đất ổn định từ năm 1976 cho đến nay. Sau đó, bà L đi bệnh viện một thời gian nên vắng nhà. Ông Huỳnh Văn N là người sử dụng đất liên ranh đã tự ý san ủi cả hàng cây làm ranh giới đất và lấn sang phần đất trồng 02 hàng cây điều của bà L. Khi biết sự việc thì bà L có nói nhưng ông N phủ nhận.
Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cũ nên bà L làm thủ tục xin cấp đổi. Khi tổ đo đạc tiến hành đo đất và B thực tế thì đất bị thiếu diện tích nhiều nên bà L mời ông N là chủ đất liên ranh cùng xác định lại ranh nhưng ông N không đồng ý và chỉ đồng ý theo hiện trạng thực tế nên tổ đo đạc xác định cột mốc không đúng, bị thiếu nhiều không thể đo đạc được, diện tích bị thiếu khoảng 870m². Do vậy, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Huỳnh Văn N trả lại phần diện tích 870m².
Tại đơn khởi kiện bổ sung, bà L yêu cầu bị đơn trả lại tổng cộng là 999,9m² theo kết quả đo đạc thực tế được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố B thực hiện.
- Bị đơn ông Huỳnh Văn N trình bày:
Phần đất tranh chấp trên thực tế thuộc thửa số 1039, tờ bản đồ số 6, tại phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Phần đất này có nguồn gốc do ông nhận tặng cho thực tế từ mẹ là bà Ngô Thị T1 vào năm 2000. Đến năm 2007 thì bà T1 mới tiến hành thủ tục tặng cho hoàn tất. Ông đã được UBND huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH 576493, số vào sổ: H 00838 ngày 17/01/2007, với diện tích 6.647m².
Năm 2004, ông N đã san lấp đất và trồng cao su. Khi đó, gia đình ông N và gia đình bà L thống nhất lại ranh và cắm cọc rõ ràng. Đến năm 2021, gia đình ông xây dựng nhà từ đường thì gia đình ông có mời gia đình bà L ra xác định lại ranh lần nữa và cắm cọc ranh rõ ràng. Phần đất của ông N đã được ông N quản lý, sử dụng ổn định đến nay đã mấy chục năm nên việc bà L cho rằng ông lấn chiếm đất là không đúng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà L là theo bản đồ chính quy chụp từ vệ tinh nên diện tích có thể bị chênh lệch.
Ông N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và có đơn phản tố với yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích tranh chấp 999,9m² CLN. Ông N cũng có đơn yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương trình bày:
Bà Lê Thị L được UBND huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01385 cấp ngày 06/9/2007, thửa số 61, tờ bản đồ số 6, diện tích 4.156m² CLN. Quá trình cấp giấy chứng nhận chỉ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính được lập bằng công nghệ ảnh hàng không, sử dụng hệ tọa độ HN-72.
Ông Huỳnh Văn N được UBND huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00838 cấp ngày 17/01/2007 tại thửa số 1039 (tách ra từ thửa 1010), tờ bản đồ số 6, diện tích 6.647m² CLN. Phần đất được đo đạc bằng phương pháp thủ công, không thể hiện tọa độ các điểm góc ranh.
Mảnh trích lục có đo đạc chỉnh lý số 02-2024 do Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố) B lập ngày 05/3/2024 theo yêu cầu của Tòa án, được thực hiện bằng phương pháp đo đạc trực tiếp bằng máy toàn đạc điện tử, đo đạc theo sự hướng dẫn vị trí, ranh giới, mốc giới của bà Lê Thị L và ông Huỳnh Văn N, không có sự chứng kiến của chủ sử dụng đất liền kề, chưa thực hiện lập mô tả ký ranh giới, mốc giới thửa đất và chưa xác định nguyên nhân tăng giảm theo quy định, có thể hiện bảng liệt kê tọa độ góc ranh VN-2000. Đối chiếu cơ sở dữ liệu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất nêu trên và Mảnh trích lục số 02-2024 ngày 05/3/2024 thì không có cơ sở thực hiện việc áp sổ, áp thửa do không cùng hệ tọa độ. Tuy nhiên, theo lồng ghép ranh giữa kết quả đo đạc thực tế với ranh thửa đất theo Bản đồ địa chính thì phần diện tích tranh chấp 999,9m² thuộc thửa số 61, tờ bản đồ số 6 (việc lồng ghép chỉ mang tính tương đối).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường M, thành phố B trình bày:
Đối với việc tăng giảm diện tích thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân phường M không có cơ sở xác định. Đề nghị Tòa án xem xét ranh giới thực tế các bên chỉ dẫn, quá trình sử dụng và tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp làm cơ sở giải quyết vụ án. Ủy ban nhân dân phường M không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản tố của các đương sự. Ủy ban nhân dân phường M cũng có yêu cầu vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng cho đến khi kết thúc vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị T1 trình bày:
Bà T1 là mẹ ruột của bị đơn ông Huỳnh Văn N và còn là thông gia với nguyên đơn bà Huỳnh Thị L3. Phần đất đang tranh chấp thuộc thửa số 1039, tờ bản đồ số 6 tại phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Nguồn gốc là bà T1 tặng cho con trai là ông N quản lý từ năm 2000 đến năm 2007 thì bà T1 mới lập thủ tục tặng cho bằng văn bản. Ông N đã được UBND huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH 576493, số vào sổ H00838 ngày 17/01/2007, với diện tích 6.647m².
Sau năm 1975, bà T1 về địa phương sinh sống khai phá phần đất này, trồng điều khoảng 10 năm. Đến những năm 1980 thì bà T1 phá điều để khai thác sạn. Năm 2000, bà T1 cho ông N khoảng 01 hecta, sau khi khai thác sạn được một thời gian thì chuyển sang trồng cao su đến vài năm gần đây ông N thanh lý cao su, chuyển sang trồng tràm. Phần đất của bà T1 hiện nay vẫn còn lại một phần đất thuộc thửa đất số 1010, hướng Bắc giáp đất ông N, hướng Đông giáp đất bà L3.
Từ khi bà T1 khai thác, quản lý, sử dụng đất thì phần ranh giữa đất bà (tức phần đã tặng cho ông N) và đất bà L3 được phân định rõ ràng bằng ranh mốc, trên đất tồn tại hàng cây rừng, cây tre, tầm vông do bà L3 trồng và mương nước vẫn còn tồn tại cho tới nay. Sau đó, bà L3 gửi đơn tranh chấp đến UBND phường M (không nhớ rõ thời gian). Sau khi UBND phường giải quyết thì bà L3 đã cắm lại cọc bê tông và xi măng chân cột như vị trí cọc bê tông trên đất như hiện nay. Gia đình bà đồng ý với ranh mốc này và không ý kiến gì, phần đất còn lại của bà T1 đã có tường rào kiên cố nên không tranh chấp gì với bà L3 và ông N. Phần đất bà T1 cho ông N thuộc thửa số 1039, tờ bản đồ số 6, tại phường M đã có ranh mốc rõ ràng, bà T1 và ông N đã quản lý, sử dụng, canh tác trên đất mấy chục năm nay. Ranh mốc giữa hai bên cũng do bà L3 tự cắm.
Bà T1 không có ý kiến gì đối với kết quả đo đạc thực tế. Bà T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn. Bà T1 cũng xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
- Người làm chứng ông Huỳnh Văn N1 trình bày:
Ông N1 không có họ hàng thân thích gì với các đương sự trong vụ án. Ông Nghĩa là người địa phương, ở cùng khu phố với bà Lê Thị Lang . Trước đây khi chưa thanh lý cao su thì ông được ông Huỳnh Văn N thuê cạo mủ trên phần đất tranh chấp giữa bà L3 và ông N. Ông N1 được thuê cạo từ năm 2012 (khi cây đã 10 năm tuổi) đến khi ông N thanh lý vào năm 2022, do đất xấu nên 10 năm mới khai thác mủ được. Ông N trồng cao su hết đất, giáp đất bà L3, giáp với đường mương, hàng cây tre, tầm vông, cây rừng và thẳng 02 trụ bê tông do bà L3 cắm.
Ông Nghĩa là người địa phương ở gần phần đất này, ông N1 làm mướn quanh khu vực nên biết về phần đất này, cụ thể vào khoảng năm nào thì ông không nhớ rõ. Khi bà L3 có đơn thưa gia đình ông N về việc tranh chấp ranh đất thì UBND phường có cử cán bộ xuống hòa giải, lúc này ông N1 cũng có mặt chứng kiến chính bà L3 là người đã cắm 02 trụ bê tông ở đầu đất và cuối đất, đổ xi măng vào chân trụ, ở đúng vị trí giữa 02 ranh hiện nay. Sau khi cắm trụ bê tông xong thì gia đình bà L3 mới đào đường mương thẳng vị trí 02 cây trụ bê tông như hiện nay.
Ông N1 thấy bà Huỳnh Thị L3 khởi kiện không có căn cứ. Ông Huỳnh Văn N đã trồng cao su từ trước khi bà L3 chôn trụ bê tông làm mốc sau khi được chính quyền địa phương giải quyết, bà L3 chôn trụ làm ranh mốc cũng thống nhất với diện tích ông N quản lý, sử dụng trồng cao su. Ông N1 cũng xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
- Người làm chứng ông Châu Ngọc L2 trình bày:
Ông L2 không có quan hệ họ hàng với bất cứ ai, ông L2 biết ông Huỳnh Văn N vì từng thu mua cây cao su thanh lý từ ông N vào tháng 4/2022. Thời điểm này thì cao su trên đất khoảng 18-20 tuổi. Ông L2 mua tầm 600 cây và trực tiếp cắt số cây này. Ông L2 nhớ ranh hướng Nam của đất ông N có mương nước và hàng mấy cây tre, tầm vông, trụ bê tông, việc mua bán cây cao su chỉ được các bên thỏa thuận bằng lời nói, ông L2 mua để bán lại cho Công ty. Hiện ông L2 không còn lưu giữ bất cứ giấy tờ gì. Ông L2 cũng xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 116/2024/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L với bị đơn ông Huỳnh Văn N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” (đối với diện tích 999,9m² CLN, thuộc tờ bản đồ số 6, tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương).
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Huỳnh Văn N với nguyên đơn bà Lê Thị L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” như sau:
Ông Huỳnh Văn N được quyền sử dụng, đăng ký kê khai, cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích 999,9m² CLN, thuộc tờ bản đồ số 6, tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Trên đất có 595 cây tràm do ông Huỳnh Văn N trồng (Có sơ đồ kèm theo Bản án để thi hành).
- Các đương sự được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, cấp lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với diện tích, hiện trạng thực tế theo nội dung quyết định của bản án này.
- Kiến nghị UBND thành phố B, tỉnh Bình Dương thu hồi đối với: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01385 cấp ngày 06/9/2007 đã cấp cho hộ bà Lê Thị L và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00838 cấp ngày 17/01/2007 mà UBND huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương đã cấp cho ông Huỳnh Văn N, và cấp lại cho các đương sự cho phù hợp với nội dung quyết định của Bản án này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Nguyên đơn bà Lê Thị L được miễn nộp.
- - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương hoàn lại cho bị đơn ông Huỳnh Văn N số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 001080 ngày 03/5/2024.
- Về chi phí thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản và sao lục hồ sơ: Nguyên đơn bà Lê Thị L phải chịu 7.934.000 đồng, được trừ vào tạm ứng đã nộp.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 02/8/2024, bà Lê Thị L làm đơn kháng cáo nộp ngày 05/8/2024 yêu cầu kháng cáo toàn bộ nội dung quyết định của bản án sơ thẩm.
Ngày 30/8/2024, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương kháng nghị bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát theo hướng sửa án sơ thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Lang .
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Lê Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Lang .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
- - Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn bị thiếu diện tích, phần đất của bị đơn thừa nhiều về diện tích. Hình thể và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được xác định nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng của nguyên đơn Lê Thị L nên kháng cáo của nguyên đơn, kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bác yêu cầu phản tố của bị đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục:
[1.1] Đơn kháng cáo của bà Lê Thị L làm và nộp trong hạn là phù hợp nên được chấp nhận.
[1.2] Kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương trong thời hạn luật định nên phù hợp.
[1.3] Về việc vắng mặt của bị đơn và và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp có diện tích 999,9m² CLN theo đo đạc thực tế thuộc một phần của thửa số 61, tờ bản đồ số 6, tại phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn, thấy rằng:
[2.1.1] UBND huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp cho hộ bà Ngô Thị T1 với tổng diện tích 24.610m², thửa số 1010, tờ bản đồ số 6, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H09292 ngày 05/5/2005. Bà Ngô Thị T1 tặng cho ông Huỳnh Văn N diện tích đất 6.647m² CLN tại thửa số 1039 (được tách ra từ thửa số 1010), tờ bản đồ số 6 và đã được UBND huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00838, ngày 17/01/2007. Liền ranh quyền sử dụng đất hướng Nam là thửa số 61, tờ bản đồ số 6, diện tích 4.156m² của bà Lê Thị L được UBND huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01385, ngày 06/9/2007. Diện tích tranh chấp (đo đạc thực tế là 999,9m² CLN) có tranh chấp nằm ở giữa đất cấp cho ông Huỳnh Văn N và bà Lê Thị L và nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Lang . Tuy nhiên, diện tích đất này lại do bị đơn ông Huỳnh Văn N quản lý, sử dụng và trồng 595 cây tràm trên đất.
[2.1.2] Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên đương sự (năm 2005 - 2007) được đo đạc bằng phương pháp thủ công và không ảnh, không thể hiện tọa độ các điểm góc ranh. Tuy nhiên, tại hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn Nxác định: bà Ngô Thị T1 tặng cho ông Huỳnh Văn Ndiện tích đất 6.647m² CLN tại thửa số 1039 (được tách ra từ thửa số 1010 của bà T1). Ngoài ra, không còn cho diện tích nào khác.
[2.1.3] Theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 2-2024 ngày 05/3/2024 (diện tích đất thực tế) của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố B thì:
Nếu tính cộng phần diện tích 999,9 m² đất tranh chấp cho ông N thì diện tích thửa đất 1039 của ông Huỳnh Văn N tăng 2.722,1m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và diện tích thửa đất số 61 của bà Lê Thị L bị thiếu 858,8m² (đo đạc thực tế là 999,9m²) so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
Nếu không tính diện tích 999,9m² tranh chấp thì diện tích thửa đất 1039 của ông Huỳnh Văn N vẫn tăng 1.722,2m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và diện tích đất của bà Lê Thị L vẫn bị thiếu 858,8m² (đo đạc thực tế là 999,9m²) so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
[2.1.4] Về hình thể hai thửa đất giáp ranh giữa bà L với ông N theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp cho nguyên đơn và bị đơn, bản đồ địa chính ngày 03/11/2006 thì: Ranh đất hướng Nam của thửa 1039 (cấp cho ông N) đồng thời là hướng Bắc của thửa 61 (cấp cho bà L) là một đường thẳng. Tuy nhiên, vị trí tranh chấp hiện tại theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 2-2024 ngày 05/3/2024 (diện tích đất thực tế) của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố B theo chỉ dẫn của ông N thì là một đường gấp khúc, không phù hợp với hình thể được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên và bị đơn năm 2007.
[2.1.5] Mặt khác, bản án sơ thẩm căn cứ lời làm chứng của các nhân chứng trong đó có ông Huỳnh Văn Nghĩa L4 anh của bị đơn Huỳnh Văn N (theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất bút lục 83) để xác định quyền sử dụng đất của bị đơn Huỳnh Văn N là thiếu trung thực, thiếu khách quan.
[2.2] Xét Quyết định kháng nghị số 40/QĐKN-VKS-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương thấy rằng:
[2.2.1] Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương kháng nghị toàn bộ quyết định của bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị L như những nhận định tại mục [2.1] là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.2.2] Đối với cây trồng trên diện tích đất tranh chấp xác định do bị đơn trồng nhưng phía nguyên đơn không có sự ngăn chặn, không quản lý tốt việc sử dụng đất, để sự việc ông N trồng cây xảy ra nên phải bồi thường giá trị cho bị đơn là phù hợp.
[3] Bản án sơ thẩm xác định ranh đất xác lập năm 2004 và cho rằng bị đơn ông Huỳnh Văn N có canh tác, sử dụng đất liên tục từ trước đến nay để chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không đủ căn cứ xác lập quyền sử dụng đất và không phù hợp thực tế khách quan khi các bên có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị L và kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải nộp theo quy định.
[5] Về chi phí thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản và sao lục hồ sơ: Bị đơn ông N phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị L và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 116/2024/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L với bị đơn ông Huỳnh Văn N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với phần đất diện tích 999,9m² CLN thuộc tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Buộc ông Huỳnh Văn N trả lại quyền sử dụng đất diện tích 999,9m² CLN, thuộc tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương cho bà Lê Thị L (ký hiệu A theo sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Bà L có trách nhiệm bồi thường cho ông Huỳnh Văn N giá trị 595 cây tràm với số tiền là 5.355.000 đồng (năm triệu, ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng) và bà L được sở hữu 595 cây tràm trên đất.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Huỳnh Văn N về việc công nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn N đối với diện tích 999,9m² CLN, thuộc tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản và sao lục hồ sơ: Bị đơn ông Huỳnh Văn N phải nộp 7.934.000 đồng (bảy triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn đồng) để hoàn trả chi phí cho bà Lê Thị L đã nộp.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn ông Huỳnh Văn N phải chịu số tiền 112.999.500 đồng (một trăm mười hai triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm đồng).
- - Án phí về yêu cầu phản tố: Ông N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 001080 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L với bị đơn ông Huỳnh Văn N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với phần đất diện tích 999,9m² CLN thuộc tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị L không phải chịu.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Tấn |
Bản án số 129/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 129/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
