|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 129/2025/DS-ST
Ngày: 06-02-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thu
- Ông Bùi Quang Chính
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1606/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Trụ sở: Lầu H, 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện ủy quyền: Bà Vũ Thị Thạch T ( có mặt)
Bị đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1979 ( vắng mặt)
Địa chỉ: A L, khu phố G ( nay là khu phố A), phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Ông Lê Quốc T1, sinh năm 1974 ( vắng mặt)
Địa chỉ: A L, khu phố G (nay là khu phố A), phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 5 năm 2024, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S trình bày:
Ngày 11/5/2016, bà Lê Thị P có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà P, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng VS payWave Cre Classic với hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,22%/tháng.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 229.500.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 197.240.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà P vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/11/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 06/02/2025, bà P còn nợ gốc 106.565.300 đồng, lãi quá hạn 95.285.718 đồng, tổng cộng 201.851.018 đồng. Ngân hàng yêu cầu bà P trả ngay số tiền còn nợ trên và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07/02/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn là bà Lê Thị P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Quốc T1 dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Đại diện ủy quyền nguyên đơn yêu cầu bà Lê Thị P trả ngay số tiền 201.851.018 đồng và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07/02/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Ngân hàng không yêu cầu ông Lê Quốc T1 có trách nhiệm cùng trả nợ với bà Lê Thị P.
Bị đơn bà Lê Thị P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Quốc Thanh vắng M.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo qui định của pháp luật.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.
- Về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị P (địa chỉ: phường T, thành phố T) trả số tiền đã vay nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bị đơn bà Lê Thị P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Quốc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ Giấy để nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/5/2016 và Tờ trình chuyển đổi chính sách thẻ tín dụng cá nhân ngày 31/12/2021 có cơ sở xác định bà P yêu cầu Ngân hàng thương mại cổ phần S cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Ngân hàng đã cấp Thẻ tín dụng số 472074-2480 hạn mức tín dụng 100.000.000 đồng cho bà P.
[2.3] Theo kết quả xác minh của Công an phường T, thành phố T thì bà Lê Thị P và ông Lê Quốc T1 có hộ khẩu tại A L, khu phố A ( Khu phố G cũ), phường T, thành phố T. Ông T1 đang cư trú tại địa phương, bà P không thực tế cư trú tại địa phương. Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tống tụng cho bà P, ông T1 tại địa chỉ hộ khẩu trên.
Xét từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay, bà Lê Thị P và ông Lê Quốc T1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà P và ông T1 đều không đến Tòa án tham gia và cũng không có gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn cũng như cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh về việc đã trả lãi và thanh toán toàn bộ khoản nợ trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Căn cứ Tóm tắt sao kê thẻ tín dụng của bà Lê Thị P đến ngày 06/02/2025 có cơ sở xác định ngày 23/7/2022 bà P ngưng thanh toán cho Ngân hàng và có số dư cuối kỳ 96.027.470 đồng. Ngày 23/11/2022, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 106.565.300 đồng của bà P sang nợ quá hạn. Tính đến 06/02/2025 bà P còn nợ lãi quá hạn là 95.285.718 đồng.
Từ những phân tích trên có cơ sở xác định bà P chưa thanh toán số dư nợ cuối kỳ 106.565.300 đồng và lãi quá hạn 95.285.718 đồng tính đến ngày 06/02/2025 cho Ngân hàng thương mại cổ phần S. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà P trả ngay cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số nợ gốc 106.565.300 đồng, lãi quá hạn 95.285.718 đồng, tổng cộng 201.851.018 đồng và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07/02/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
[3]. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị P phải nộp án phí là (201.851.018 đồng x 5%) = 10.092.551 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hòan trả Ngân hàng thương mại cổ phần S tạm ứng án phí 3.877.343 đồng đã đóng theo biên lai số 0043385 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố T.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu án phí là có cơ sở.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- - Áp dụng các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S
Buộc bà Lê Thị P có trách nhiệm phải trả ngay cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc 106.565.300 đồng, lãi quá hạn 95.285.718 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Tổng cộng 201.851.018 đồng ( Hai trăm lẻ một triệu tám trăm năm mươi mốt ngàn không trăm mười tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 06/02/2025, bà Lê Thị P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà P phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị P phải nộp án phí 10.092.551 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hòan trả Ngân hàng thương mại cổ phần S tạm ứng án phí 3.877.343 đồng đã đóng theo biên lai số 0043385 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố T.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương Thảo |
Bản án số 129/2025/DS-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 129/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH kiện yêu cầu bà P trả số tiền vay
