|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 129/2024/HS-ST Ngày 06-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Công Hạnh và bà Phan Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Ngọc T
(Tên gọi khác: không), sinh ngày 26/8/1995 tại tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở hiện nay: thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc H, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1969; Vợ Đào Thị Tuyết S, sinh năm 1995; Có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2024, có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đào Thị Tuyết S, sinh năm 1995; Địa chỉ: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
- Ông Phạm Thanh H1, sinh năm 1977; Địa chỉ: B T, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Đào Văn Q, sinh năm 1972; Địa chỉ: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: Ông Đặng Thanh H2, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 12/5/2024, bị cáo Lê Ngọc T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số 78H1-125.37 đi trên đoạn đường N thuộc Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo hướng Đ-T, bị cáo phát hiện thấy bà Nguyễn Thị Thu T2 điều khiển xe mô tô biển số 78F6-4533 lưu hành theo hướng ngược chiều, trên ba ga giữa của xe mô tô có để một cái ví da nên nảy sinh ý định giật tài sản của bà T2. Bị cáo điều khiển xe đi theo sau xe bà T2 đến đoạn trước nhà của bà T2 tại khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Lúc này, từ phía sau bị cáo điều khiển xe vượt lên áp sát bên trái bà T2 và dùng tay giật lấy chiếc ví da rồi tăng ga tẩu thoát. Bị cáo điều khiển xe đi đến khu vực trồng rừng bạch đàn thuộc xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên lục ví lấy số tiền 4.300.000 đồng rồi ném ví da và một số giấy tờ vào rừng bạch đàn. Số tiền chiếm đoạt được, bị cáo dùng 800.000 đồng mua một điện thoại di động Redmi màu đen tại tiệm cầm đồ H2 68 tại địa chỉ: B T, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên và sử dụng chi tiêu cá nhân, còn lại số tiền 2.334.000 đồng cất giấu tại nhà thuộc thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T, tỉnh Phú Yên kết luận: 01 (một) cái ví da màu vàng, sọc nâu-xám-xanh, kích thước (21x10,5x2,5)cm, đã qua sử dụng từ năm 2022 trị giá 115.000 đồng.
Bị cáo Lê Ngọc T thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường số tiền đã chiếm đoạt và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Thu T2 đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về vật chứng, đồ vật tạm giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave S, màu đen xám, biển số 78H1-125.37, số khung RLHJC5265DY016843, số máy JC52E1062144; 01 (một) áo khoác vải dù dài tay màu xám; 01 (một) khẩu trang y tế màu đen; 01 (một) quần dài vải jean, màu xanh-đen; 01 (một) áo vải thun, màu đen, cổ chui ngắn tay; 01 (một) nón bảo hiểm nhựa màu đen; 01 (một) đôi dép xốp quai ngang màu đen, trên quai dép có chữ Buma; 01 (một) áo khoác vải, dài tay, màu hồng, trước ngực áo bên trái có chữ AD; 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh; 01 (một) tờ vé số kiến thiết P số 518745 thứ 2 ngày 13/5/2024; 01 (một) điện thoại Redmi màu đen.
Tại bản cáo trạng số 120/CT-VKSTH ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Lê Ngọc T về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Ngọc T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/5/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Thu T2 đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) áo khoác vải dù dài tay màu xám; 01 (một) khẩu trang y tế màu đen; 01 (một) quần dài vải jean, màu xanh-đen; 01 (một) áo vải thun, màu đen, cổ chui ngắn tay; 01 (một) nón bảo hiểm nhựa màu đen; 01 (một) đôi dép xốp quai ngang màu đen, trên quai dép có chữ Buma; 01 (một) áo khoác vải, dài tay, màu hồng, trước ngực áo bên trái có chữ AD; 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh; 01 (một) tờ vé số kiến thiết P số 518745 thứ 2 ngày 13/5/2024 vì không có giá trị sử dụng; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại Redmi màu đen, là vật do phạm tội mà có; Trả lại cho bà Đào Thị Tuyết S: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave S, màu đen xám, biển số 78H1-125.37, số khung RLHJC5265DY016843, số máy JC52E1062144 vì xe mô tô này ông Đào Văn Q mua cho bà để sử dụng đi học từ năm 2013 cho đến nay và không biết bị cáo dùng xe vào việc phạm tội.
Bị cáo Lê Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại bà Nguyễn Thị Thu T2 trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 21/11/2024: Bà xin vắng mặt tại phiên toà và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị Tuyết S trình bày: Xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave S, màu đen xám, biển số 78H1-125.37 được ba bà là ông Đào Văn Q mua cho bà để sử dụng đi học từ năm 2013 cho đến nay, bà không biết bị cáo dùng xe vào việc phạm tội nên bà xin nhận lại xe mô tô để có phương tiện đi lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh H1 trình bày tại yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 19/11/2024: Ông giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, mong Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật và xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ được. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 12/5/2024, tại khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên, bị cáo Lê Ngọc T đã có hành vi điều khiển xe mô tô từ phía sau áp sát xe mô tô của bị hại bà Nguyễn Thị Thu T2 đang điều khiển giật lấy ví da của bà T2 rồi nhanh chóng tẩu thoát, chiếm đoạt tài sản trị giá 4.415.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 120/CT-VKSTH ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố và luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng để thoả mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện việc cướp giật tài sản. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Bị hại bà Nguyễn Thị Thu T2 đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) áo khoác vải dù dài tay màu xám; 01 (một) khẩu trang y tế màu đen; 01 (một) quần dài vải jean, màu xanh-đen; 01 (một) áo vải thun, màu đen, cổ chui ngắn tay; 01 (một) nón bảo hiểm nhựa màu đen; 01 (một) đôi dép xốp quai ngang màu đen, trên quai dép có chữ Buma; 01 (một) áo khoác vải, dài tay, màu hồng, trước ngực áo bên trái có chữ AD; 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh; 01 (một) tờ vé số kiến thiết P số 518745 thứ 2 ngày 13/5/2024 vì không có giá trị sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại Redmi màu đen vì số tiền chiếm đoạt được, bị cáo dùng 800.000 đồng mua điện thoại di động để sử dụng nên điện thoại này là vật do phạm tội mà có.
Trả lại cho bà Đào Thị Tuyết S: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave S, màu đen xám, biển số 78H1-125.37, số khung RLHJC5265DY016843, số máy JC52E1062144 vì xe mô tô này được ba bà là ông Đào Văn Q mua cho bà để sử dụng đi học từ năm 2013 cho đến nay nên bà Đào Thị Tuyết S là người quản lý hợp pháp và không biết bị cáo dùng xe vào việc phạm tội.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 15/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa).
[7] Về án phí: Bị cáo Lê Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/5/2024.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) áo khoác vải dù dài tay màu xám; 01 (một) khẩu trang y tế màu đen; 01 (một) quần dài vải jean, màu xanh-đen; 01 (một) áo vải thun, màu đen, cổ chui ngắn tay; 01 (một) nón bảo hiểm nhựa màu đen; 01 (một) đôi dép xốp quai ngang màu đen, trên quai dép có chữ Buma; 01 (một) áo khoác vải, dài tay, màu hồng, trước ngực áo bên trái có chữ AD; 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh; 01 (một) tờ vé số kiến thiết P số 518745 thứ 2 ngày 13/5/2024.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại Redmi màu đen.
Trả lại cho bà Đào Thị Tuyết S: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave S, màu đen xám, biển số 78H1-125.37, số khung RLHJC5265DY016843, số máy JC52E1062144.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 15/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Bị cáo Lê Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Vân |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN về cướp giật tài sản (hình sự)
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Ngọc Thoại
