|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 129/2024/DS-ST Ngày: 29 - 11 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thương.
- Ông Lê Hoàng Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hải Lĩnh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 310/2024/TLST-DS, ngày 06 tháng 8 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 255/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 và Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 112/2024/QĐ-TĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1958.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1979, ông Trần Thanh S, sinh năm 1977 và chị Trần Thị Ý N1, sinh năm 1998.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1955.
Nơi cư trú: Số H, đường H, khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Số F, đường C, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1958 (Văn bản uỷ quyền ngày 29/7/2024)
Cùng nơi cư trú: Số H, đường H, khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, vắng mặt bà H đã có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt bà N, ông S và chị N1 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Đỗ Thị H, cũng là người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn H1 trình bày: Do chỗ quen biết nên bà có cho gia đình bà Huỳnh Thị N vay tiền 03 lần, cụ thể như sau:
- Vào ngày 05/9/2023, bà Huỳnh Thị N, ông Trần Thanh S và con gái là chị Trần Thị Ý N1 vay số tiền 100.000.000 đồng;
- Vào ngày 11/12/2023 âm lịch (Ngày 21/01/2024 dương lịch), bà Huỳnh Thị N vay số tiền 10.000.000 đồng;
- Vào ngày 01/4/2024 âm lịch (Ngày 08/5/2024 dương lịch), bà Huỳnh Thị N vay số tiền 29.000.000 đồng. Khoản vay này, bà N đã trả được 4.000.000 đồng tiền gốc.
Tổng số tiền cho vay 139.000.000 đồng. Lãi suất thoả thuận khi vay là 2%/tháng. Số tiền cho vay là tài sản riêng của bà. Khi vay 02 lần sau này, thì bà N nói là vay để dùng trong gia đình nhưng bà không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh bà N đã sử dụng số tiền trên cho nhu cầu thiết yếu của gia đình. Từ ngày vay tới nay, bà N chỉ trả cho bà được 4.000.000 đồng tiền nợ gốc của khoản vay ngày 01/4/2024 âm lịch, tiền lãi thì vợ chồng bà chưa trả. Khi vay tiền của bà thì chị Trần Thị Ý N1 chưa có chồng.
Bà yêu cầu Toà án buộc:
- Bà Huỳnh Thị N, ông Trần Thanh S và chị Trần Thị Ý N1 phải liên đới trả cho bà số tiền nợ 100.000.000 đồng của khoản vay ngày 05/9/2023 và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,66%/tháng, kể từ ngày vay tới nay;
- Bà Huỳnh Thị N phải trả cho bà số tiền nợ 35.000.000 đồng của 02 khoản vay ngày 11/12/2023 âm lịch, ngày 01/4/2024 âm lịch và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,66%/tháng, kể từ ngày vay tới nay.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng bị đơn không tham gia nên không hòa giải được.
* Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng pháp luật, riêng bị đơn không chấp hành đúng pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Huỳnh Thị N, ông Trần Thanh S và chị Trần Thị Ý N1 phải liên đới trả cho bà Đỗ Thị H số tiền nợ 100.000.000 đồng của khoản vay ngày 05/9/2023 và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,66%/tháng, kể từ ngày vay 05/9/2023 đến nay. Buộc bà Huỳnh Thị N phải trả cho bà Đỗ Thị H số tiền nợ 35.000.000 đồng của 02 khoản vay ngày 11/12/2023 âm lịch, ngày 01/4/2024 âm lịch và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 0,83%/tháng, kể từ ngày nộp đơn khởi kiện 29/7/2024 đến nay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn, cũng là người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có tài liệu, chứng cứ thể hiện sự vắng mặt của bị đơn là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với tất cả các đương sự.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Về hợp đồng vay tài sản:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp; phía bị đơn cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản đối đối với yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đủ cơ sở để kết luận: Bà Đỗ Thị H có cho bà Huỳnh Thị N vay tiền 03 lần; cụ thể như sau:
- Vào ngày 05/9/2023, bà Huỳnh Thị N, ông Trần Thanh S và con gái là chị Trần Thị Ý N1 vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất thoả thuận 2%/tháng.
- Vào ngày 11/12/2023 âm lịch (Ngày 21/01/2024 dương lịch), bà Huỳnh Thị N vay số tiền 10.000.000 đồng;
- Vào ngày 01/4/2024 âm lịch (Ngày 08/5/2024 dương lịch), bà Huỳnh Thị N vay số tiền 29.000.000 đồng. Khoản vay này, bà N đã trả được 4.000.000 đồng tiền gốc.
Tổng số tiền cho vay 139.000.000 đồng. Số tiền cho vay là tài sản riêng của H. Từ ngày vay tới nay, bị đơn chỉ trả cho nguyên đơn được 4.000.000 đồng tiền nợ vay của khoản vay ngày 01/4/2024 âm lịch, tiền nợ lãi thì chưa trả.
[2.2] Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:
Đây là hợp đồng vay tài sản do các bên tự nguyện ký kết, khi ký kết các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ vào Điều 466 Bộ luật Dân sự thì bên vay phải trả cho bên cho vay tiền nợ vay và tiền lãi phát sinh.
[2.2.1] Về tiền nợ vay:
- Đối với khoản vay ngày 05/9/2023: Số tiền nợ vay là 100.000.000 đồng nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bà Huỳnh Thị N, ông Trần Thanh S và chị Trần Thị Ý N1 phải liên đới trả số tiền nợ vay 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) là có căn cứ nên được chấp nhận.
- Đối với khoản vay ngày 11/12/2023 âm lịch, ngày 01/4/2024 âm lịch: Số tiền nợ vay còn lại là 35.000.000 đồng nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bà Huỳnh Thị N phải trả số tiền nợ vay 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.2.2] Về tiền lãi:
[2.2.2.1] Đối với khoản vay ngày 05/9/2023:
Căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 05/9/2023 xác định đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi quy định tại khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tiền lãi trên nợ gốc được xác định như sau:
Từ ngày 05/9/2023 đến ngày 29/11/2024 là 14 tháng 24 ngày x 100.000.000 đồng x 1,66%/tháng = 24.568.000 đồng.
Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Huỳnh Thị N, ông Trần Thanh S và chị Trần Thị Ý N1 phải liên đới trả nợ lãi của khoản vay 100.000.000 đồng từ ngày 05/9/2023 đến nay theo mức lãi suất 1,66%/tháng là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.2.2.2] Đối với khoản vay ngày 11/12/2023 âm lịch, ngày 01/4/2024 âm lịch:
Căn cứ vào các giấy mượn tiền không thể hiện có lãi suất, thời hạn trả, mặc dù nguyên đơn cho rằng có thoả thuận lãi suất là 2%/tháng nhưng nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh, nên xác định đây là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và không có lãi quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tiền lãi trên nợ gốc chậm trả, thời gian chậm trả được xác định là từ ngày nguyên đơn nộp đơn khởi kiện 29/7/2024, cụ thể tiền lãi được xác định như sau:
Từ ngày 29/7/2024 đến ngày 29/11/2024 là 4 tháng x 35.000.000 đồng x 0,83%/tháng = 1.162.000 đồng.
Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Huỳnh Thị N phải trả nợ lãi của số tiền 35.000.000 đồng (của 02 khoản vay ngày 11/12/2023 âm lịch, ngày 01/4/2024 âm lịch), kể từ ngày vay đến nay theo mức lãi suất 1,66%/tháng là chưa phù hợp, chỉ được chấp nhận một phần. Đối với số tiền lãi cao hơn quy định của pháp luật không được chấp nhận.
[2.2.3] Bà Huỳnh Thị N, ông Trần Thanh S và chị Trần Thị Ý N1 phải liên đới trả cho bà Đỗ Thị H số tiền 124.568.000 đồng (Trong đó, tiền nợ vay là 100.000.000 đồng và tiền lãi là 24.568.000 đồng).
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2.4] Bà Huỳnh Thị N phải trả cho bà Đỗ Thị H số tiền 36.162.000 đồng (Trong đó, tiền nợ vay là 35.000.000 đồng và tiền lãi là 1.162.000 đồng).
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[3] Về nghĩa vụ của bị đơn ông Trần Thanh S đối với 02 khoản vay ngày 11/12/2023 âm lịch, ngày 01/4/2024 âm lịch: Khi vay tiền, không có sự tham gia của ông S; nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà N sử dụng số tiền vay vào nhu cầu thiết yếu của gia đình, mặt khác nguyên đơn cũng chỉ yêu cầu một mình bị đơn bà N phải trả nợ cho nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét buộc ông S phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ đối với 02 khoản vay riêng của bà N.
[4] Về quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà H trình bày số tiền cho vay là tài sản riêng của bà; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn H1 đã ủy quyền cho bà H được quyền thay mặt và nhân danh ông tham gia tố tụng nên phải chịu trách nhiệm về lời khai của người đại diện. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ buộc bị đơn phải trả tiền cho nguyên đơn.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận nhưng nguyên đơn thuộc trường hợp người cao tuổi, đã có đơn xin miễn nên được miễn nộp án phí; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 235, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, 463, 466, 468, khoản 1 Điều 469 và khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự; Điều 5, điểm a, b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:
1/ Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đối với số tiền lãi của khoản vay ngày 11/12/2023 âm lịch và ngày 01/4/2024 âm lịch cao hơn quy định của pháp luật.
2/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.1/ Buộc bà Huỳnh Thị N, ông Trần Thanh S và chị Trần Thị Ý N1 phải liên đới trả cho bà Đỗ Thị H số tiền 124.568.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn đồng). Trong đó, tiền nợ vay là 100.000.000 đồng và tiền lãi là 24.568.000 đồng.
Kể từ ngày 30/11/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2.2/ Buộc bà Huỳnh Thị N phải trả cho bà Đỗ Thị H số tiền 36.162.000 đồng (Ba mươi sáu triệu một trăm sáu mươi hai nghìn đồng). Trong đó, tiền nợ vay là 35.000.000 đồng và tiền lãi là 1.162.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3/ Về án phí DSST:
Bà Huỳnh Thị N, ông Trần Thanh S và chị Trần Thị Ý N1 phải liên đới chịu 6.228.000 đồng (Sáu triệu hai trăm hai mươi tám nghìn đồng) án phí DSST, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Bà Huỳnh Thị N phải chịu 1.808.000 đồng (Một triệu tám trăm lẻ tám nghìn đồng) án phí DSST, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Bà Đỗ Thị H không phải chịu án phí DSST (Bà H đã được miễn nộp tạm ứng án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi).
4/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5/ Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
Bản án số 129/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 129/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị H "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Huỳnh Thị N
