|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 129/2024/HS-ST Ngày 26/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Quang Hợp
2. Ông: Trương Khánh Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST - HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Mạnh C, sinh ngày: 27/12/1988.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: TDP E, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Trình độ văn hoá: 10/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Bố: Hoàng Văn T (Đã chết); Mẹ: Lê Thị H, sinh năm: 1951.
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1993 (Đã ly hôn). Con: Có 01 con sinh năm: 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại Quyết định số 88/QĐ-XPVPHC ngày 17/5/2016, Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với C số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau.
- Tại Quyết định số 177/QĐ-UBND ngày 09/7/2021, UBND thị trấn Q quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn Q đối với C trong thời hạn 03 tháng. Chấp hành xong ngày 09/10/2021.
- Tại Quyết định số 35/QĐ-XPHC ngày 13/3/2023, Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính đối với C số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích” nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/5/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. (Có mặt tại phiên tòa).
*. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông: Nguyễn Đức P, sinh năm 1956 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: TDP D, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
*. Người làm chứng:
- Anh: Nguyễn Tùng L, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
- Anh: Lê Quang V, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: TDP D, Thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Anh: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: TDP I, Thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
*. Người chứng kiến:
Anh: Lê Hồng C1, sinh năm: 1976 (Vắng mặt);
Địa chỉ: TDP E, Thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 25/5/2021, Tổ công tác của Công an thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến nhà Hoàng Mạnh C để gửi giấy mời cho C thì phát hiện tại phòng khách của nhà C có 03 nam thanh niên đang có biểu hiệu sử dụng trái phép chất ma tuý. Khi thấy Tổ công tác thì 03 nam thanh niên bỏ chạy. Tổ công tác tiến hành truy đuổi thì bắt giữ được Hoàng Mạnh C còn 02 đối tượng chạy thoát. Quá trình xác minh, xác định 02 đối tượng bỏ chạy là Nguyễn Tùng L, sinh năm 1992, trú tại TDP D, Thị trấn Q, huyện Đ và Phạm Văn T3, sinh năm 1987, trú tại TDP C, Thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và thu giữ, niêm phong vật chứng đối với Hoàng Mạnh C bao gồm: 01 chai nhựa (loại chai 0,5 lít), nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ nhỏ trên đó gắn 02 ống nhựa, 01 ống dài khoảng 0,4 mét có ba màu đen xanh vàng, ống còn lại dài khoảng 0,2 mét có hai màu xanh và đen (C khai là dụng cụ sử dụng chất ma tuý); 02 giấy bạc màu trắng, có kích thước lần lượt 5x15cm, 6x8cm; 01 bật lửa màu xanh, trên thân bật lửa có in chữ “Bật lửa an toàn THONG NHAT khởi nguồn may mắn”; (Niêm phong vào hộp giấy kí hiệu A); 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel, BKS 20H5 - 0881. C khai nhận chất ma tuý là của đối tượng T3. Cùng sử dụng chất ma tuý còn có đối tượng Nguyễn Văn T2 đã về trước.
Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Công an thị trấn Q đã chuyển hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền. Căn cứ tài liệu xác minh điều tra, hồi 15 giờ 40 phút ngày 26/5/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Hoàng Mạnh C. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Hồi 10 giờ ngày 27/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành mở niêm phong và tách lấy 01 chai nhựa, loại 0,5 lít, nắp chai được đục 02 lỗ nhỏ trên đó gắn 02 ống nhựa, một đầu ống gắn giấy bạc niêm phong vào hộp cattong ký hiệu A1 làm mẫu giám định. Tại bản Kết luận giám định số 957/KL-KTHS, ngày 11/6/2021 của Phòng K, công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma tuý bám dính trong chai nhựa, loại 0,5 lít gửi giám định, loại Methamphetamine.
Ngày 26/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành thu giữ mẫu tóc và máu của Hoàng Mạnh C để làm mẫu giám định. Kết luận giám định hoá pháp số 221/227/318-319/21/ĐC ngày 03/6/2021 của V1 kết luận: Trong mẫu máu và tóc của Hoàng Mạnh C gửi tới giám định ngày 01/6/2021 có tìm thấy Methamphetamine.
Ngày 04/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành thu giữ mẫu tóc của Nguyễn Tùng L trưng cầu giám định. Tại Bản kết luận giám định hoá pháp số 275/252/347/21/ĐCngày 24/6/2021 của V1 kết luận: Trong mẫu tóc vụ Nguyễn Tùng L, sinh năm 1992 do Cơ quan CSĐT, Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên gửi tới giám định ngày 22/6/2021 có tìm thấy Methamphetamine.
Ngày 30/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ thu giữ mẫu tóc của Nguyễn Văn T2 để trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định hoá pháp số 281/281/381/21/ĐC, ngày 08/7/2021 của V1 kết luận: Trong mẫu tóc vụ Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991 do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên gửi tới giám định ngày 05/7/2021 có tìm thấy Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Mạnh C, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Tùng L cùng khai nhận như sau: Bản thân C là người nghiện ma tuý. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/5/2021, C đang ở nhà thì có Phạm Văn T3 đến nhà C chơi. Tại phòng khách nhà C, T3 bảo C “Bỏ bình chơi đồ ra đây” (ý T3 là bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy loại Methamphetamine của C) ra để cùng nhau sử dụng ma tuý bằng hình thức hít. C đồng ý rồi C lấy từ sau ghế trong phòng khách ra một chiếc chai nhựa (loại chai 0,5 lít), nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ nhỏ trên đó gắn 02 ống nhựa (là dụng cụ C sử dụng ma túy loại Methamphetamine bằng hình thức hít) để trên mặt bàn uống nước trong phòng khách. Sau khi lấy dụng cụ sử dụng ma tuý xong, C đi ra nhà vệ sinh để rửa mặt. Khoảng 03 phút sau C quay vào phòng khách, (C khai nhận) thấy T3 đã cho chất ma túy, loại Methamphetamine vào “coóng” bằng giấy bạc gắn ở đầu ống hút ở chiếc bình mà C vừa mang ra. T3 dùng chiếc bật lửa ga màu xanh của C ở bàn để tự “khò” ma túy rồi C cùng T3 sử dụng ma tuý, loại Methamphetamine bằng hình thức hít tại bàn uống nước trong phòng khách nhà C. T3 sử dụng ma tuý trước sau đó đến C. C và T3 lần lượt thay nhau sử dụng ma tuý. Khi C và T3 sử dụng ma túy được khoảng 5, 6 lượt thì C gọi điện thoại rủ Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991, trú tại TDP I, Thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến nhà C chơi. Khoảng 12 giờ cùng ngày, T2 đến nhà C thì thấy C và T3 đang sử dụng ma tuý, loại Methamphetamine bằng hình thức hít trong phòng khách nhà C nên T2 đã vào sử dụng chung ma túy với C và T3. C, T3 và T2 sử dụng ma tuý khoảng 3-4 lượt đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì T2 ra về nên C đã nhờ T2 đưa C đến nhà anh Lê Quang V, sinh năm 1977, trú tại TDP D, thị trấn Q, huyện Đ chơi. Trong thời gian C đến nhà V chơi thì Nguyễn Tùng L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Angel, BKS: 20H5 - 0881 (sau xác định là xe mô tô của ông Nguyễn Đức P, trú tại: TDP D, Thị trấn Q, huyện Đ, Thái Nguyên, chú của L) đến nhà C thì thấy T3 ngồi một mình ở bàn uống nước nhà C, trên bàn uống nước có bộ sử dụng ma tuý gồm chai nhựa, ống hút và “cóong” có sẵn ma tuý nên L đã tự lấy bật lửa đốt số ma tuý có sẵn trong “cóong” để sử dụng ma tuý cùng với T3.
Về phía C khi đến nhà V thì C gặp một người tên là H (C không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể). C ngồi nói chuyện với H và V khoảng 15 phút thì C nhờ H chở về nhà. Khi H chở C về đến nhà thì H nhìn thấy Phạm Văn T3 có mặt ở nhà C nên H đi về. C vào nhà thì thấy Nguyễn Tùng L đang cùng T3 sử dụng ma túy, loại Methamphetamine nên C đã vào cùng sử dụng ma túy với T3 và L. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày khi C, L, T3 đang sử dụng ma túy loại Methamphetamine thì Tổ công tác Công an thị trấn Q đến nhà C. Thấy tổ công tác do sợ hãi nên C, T3 và L đã bỏ chạy. Công an thị trấn Q đã truy đuổi bắt giữ được C còn T3 và L chạy thoát. Tổ công tác Công an thị trấn Q, huyện Đ đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng đối với C như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 hộp cát tông niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là mẫu còn lại sau giám định); 02 mảnh giấy bạc màu trắng có KT lần lượt 5x15 (cm); 6x8 (cm); 01 bật lửa ga màu xanh, trên thân bật lửa có in chữ “bật lửa an toàn THONG NHAT Khởi nguồn may mắn” (thu giữ của C). Hiện những vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Chi cục THADS huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên chờ xử lý.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angel, BKS 20H5 - 0881 thu giữ của Nguyễn Tùng L. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án, ngày 17/9/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại xe mô tô cho ông P quản lý sử dụng.
Tại cáo trạng số 125/CT-VKSĐT ngày 28/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Hoàng Mạnh C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS.
Tại phiên tòa ngày hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ giữ nguyên quyết định truy tố, đã luận tội đối với bị cáo Hoàng Mạnh C và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 BLHS; Điều 106 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Mạnh C mức án từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 30/5/2024.
Về phạt bổ sung: Do không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định nên miễn phạt bổ sung bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp cát tông niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là mẫu còn lại sau giám định); 02 mảnh giấy bạc màu trắng có KT lần lượt 5x15 (cm); 6x8 (cm); 01 bật lửa ga màu xanh, trên thân bật lửa có in chữ “bật lửa an toàn THONG NHAT Khởi nguồn may mắn” (thu giữ của C).
Về án phí: Buộc bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung quỹ nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Nói lời sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2]. Xét hành vi của bị cáo, thấy: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Mạnh C khai nhận. Khoảng 12 giờ 00 ngày 25/5/2021, tại bàn uống nước trong phòng khách nhà ở của Hoàng Mạnh C thuộc TDP E, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, C đã có hành vi cung cấp dụng cụ sử dụng ma tuý gồm chai nhựa, ống hút, bật lửa, cóong bằng giấy bạc để C và Phạm Văn T3, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Tùng L cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine bằng hình thức hít. C và các đối tượng sử dụng ma tuý, loại Methamphetamine liên tục đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì T2 bỏ về còn C, L và T3 tiếp tục sử dụng ma tuý, loại Methamphetamine đến khoảng 12 giờ 55 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác của Công an thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện. Lợi dụng sơ hở T3 và L đã bỏ chạy thoát. Tổ công tác đã bắt giữ được C và lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng đối với C theo quy định.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, chứng kiến; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, như: biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường; vật chứng thu giữ; các kết luận giám định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ...
Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hoàng Mạnh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
Điều 255 Bộ luật hình sư:
“ 1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Đối với 02 người trở lên ……”;
[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo: tính chất của vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Do là đối tượng nghiện chất ma túy nên khoảng 12 giờ 00 ngày 25/5/2021 tại nhà ở của mình, Hoàng Mạnh C đã trực tiếp đưa bộ dụng cụ thường dùng để sử dụng ma túy trái phép của mình cho Phạm Văn T3 pha chế chất ma túy (ma túy do T3 mang đến) cho các đối tượng, gồm: Hoàng Mạnh C, Phạm Văn T3, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Tùng L sử dụng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Ngoài ra bố đẻ và mẹ đẻ của bị cáo C là người có công với cách mạng được thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, bố đẻ bị cáo được hưởng trợ cấp thương binh nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.
[5]. Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện chất ma túy và có nhân thân rất xấu đã 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi cố ý; là người xuất thân từ gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đầy đủ nhận thức các việc làm đúng sai của bản thân nhưng do coi thường pháp luật, bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
[6]. Về hình phạt: Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh C mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật như vậy mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại điện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có tài sản riêng, không có công ăn việc làm nên miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
[7]. Về vật chứng của vụ án: 01 hộp cát tông niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là mẫu còn lại sau giám định); 02 mảnh giấy bạc màu trắng có KT lần lượt 5x15 (cm); 6x8 (cm); 01 bật lửa ga màu xanh, trên thân bật lửa có in chữ “bật lửa an toàn THONG NHAT Khởi nguồn may mắn” (thu giữ của C). Xác định là công cụ, phương tiện phạm tội và là các vật Nhà nước cấm lưu hành, cần được tịch thu và tiêu hủy.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST sung quỹ Nhà nước.
[9]. Các nội dung có liên quan khác:
Về nguồn gốc số chất ma túy,loại Methamphetamine mà C, T3 và T2, L đã sử dụng tại nhà C, C khai nhận do Phạm Văn T3 mang đến nhà C. Tuy nhiên, sau khi bị Tổ công tác Công an thị trấn Q phát hiện, T3 đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã xác minh và ra thông báo truy tìm số 06/TB-CQĐT ngày 10/8/2021 đối với T3 hiện chưa xác định được T3 ở đâu. Ngoài lời khai của C không còn tài liệu nào khác chứng minh. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ sẽ tiếp tục điều tra xử lý đối với T3 theo quy định.
Hoàng Mạnh C khai nhận trước ngày 25/5/2021 T3 và L đã nhiều lần đến nhà C để sử dụng ma tuý tại nhà C. Quá trình điều tra C không nhớ ngày tháng cụ thể còn L thì không thừa nhận có sử dụng ma tuý tại nhà C. Ngoài lời khai của C không còn tài liệu nào khác chứng minh. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có căn cứ để xem xét xử lý.
Liên quan trong vụ án, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Tùng L đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 25/5/2021 tại nhà C. Do đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Công an huyện Đ không xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 và L.
Liên quan đến vụ án Hoàng Mạnh C khai nhận có một người đàn ông tên là H chở C từ nhà V về nhà C và H có nhìn thấy Phạm Văn T3 ở trong nhà C. Quá trình điều tra C khai nhận H không sử dụng ma tuý tại nhà C và C không biết địa chỉ lai lịch cụ thể của H nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với người đàn ông này.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angel, BKS 20H5 - 0881 là tài sản của ông Nguyễn Đức P. Ông P không biết và L không nói việc L mượn chiếc xe mô tô trên để đến nhà C sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với ông P.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Mạnh C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
- Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo Hoàng Mạnh C.
- Về Vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 hộp cát tông niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là mẫu còn lại sau giám định); 02 mảnh giấy bạc màu trắng có KT lần lượt 5x15 (cm); 6x8 (cm); 01 bật lửa ga màu xanh, trên thân bật lửa có in chữ “bật lửa an toàn THONG NHAT Khởi nguồn may mắn” (thu giữ của C).
- Về án phí:. Buộc bị cáo C phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung quỹ nhà nước.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Mạnh C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bắt tạm giam 30/5/2024.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 111/QĐ - VKSĐT ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kao Hoàng |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử 08 năm tù giam
