Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ GIÁ RAI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 129/2024/DS-ST

Ngày 24 tháng 9 năm 2024

V/v tranh chấp “Hợp đồng dịch vụ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Kiều Song Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhạn

Bà Cao Thị Mỹ Phượng

Thư ký phiên tòa: ông Lê Khắc Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoa Đăng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 196/2024/TLST – DS ngày 3 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST – DS ngày 20 tháng 8 năm 2024:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1989: Địa chỉ: ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976, địa chỉ: khu V, phường T, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Ông Biện Thành P, sinh năm 1980; Địa chỉ: khóm H, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Kim L, sinh năm 1984; địa chỉ: khóm A, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T và lời trình bày của ông Nguyễn Văn T1 người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn xác định:

Ngày 10/01/2023 (âl) ông T có liên hệ với ông Biện Thành P về việc hợp đồng cắt lúa. Ông P là người trực tiếp hợp đồng với các chủ ruộng, sau đó hợp đồng lại với ông T để ông T đưa máy đến cắt lúa, mỗi công lúa giá thuê là 350.000đ, ông P trả cho ông T 330.000đ, còn lại 20.000đ là phần của ông P.

Ngày 12/02/2023 ông T cắt của các chủ ruộng tất cả là 170 công, tương ứng với số tiền công ông P trả lại cho ông T là 59.500.000đ, sau khi đối trừ các khoảng hai bên đi đến thống nhất ông P có nghĩa vụ trả lại cho ông T số tiền 56.100.000đ. Tuy nhiên ông P hứa nhiều lần nhưng không trả, nên khoảng tháng 3 năm 2023 anh T có nhờ anh Võ Kim L là người địa phương đến lấy dùm, nhưng anh P vẫn hứa và không trả.

Đến khoảng tháng 4 ông T đến lấy tiền thì ông P cho rằng đã trả đủ số tiền cho ông Võ Kim L và có đưa biên nhận viết tay của ông L ghi Võ Kim L đã nhận đủ tiền.

Ông T liên hệ với ông L xác định thì ông L xác định không có nhận khoản tiền nào từ ông P hết.

- Đối với bị đơn ông Biện Thành P: Vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông P.

- Ông Võ Kim L trình bày tại biên bản ghi lời khai ngày 29/8/2024:

Vào khoảng tháng 3/2023 ông có người bạn tên L1 ở thị trấn G, huyện Đ nhờ ông đến nhà của ông Biên Thành P1 xem giúp có 02 người ở tỉnh Hậu Giang đến lấy tiền lúa có cự cãi nên ông có vào hòa giải các bên thống nhất ông P1 hứa sẽ trả tiền sau.

Đến thời hạn trả tiền do ông P1 chưa có tiền trả nên có nhờ ông ghi mấy chữ đã nhận tiền để khi ông T đến kéo dài thời gian trả nợ và ông đồng ý nhưng thực tế không có nhận tiền.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai trình bày quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự: từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Đối với ông Biện Thành P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do là vi phạm quy định tại khoản 15,16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về phần nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T. Buộc ông Biện Thành P có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền 56.100.000đ. Đối với việc ông P xác định giao số tiền 56.100.000đ cho ông Võ Kim L thì có quyền yêu cầu ông L giao lại, trường hợp có phát sinh tranh chấp thì giải quyết thành vụ kiện khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Thanh T và ông Biện Thành P tranh chấp về hợp đồng dịch vụ, hiện tại ông P có địa chỉ tại khóm H, phường L, thị xã G nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Đại diện nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và được Tòa án chấp nhận. Đối với bị đơn Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập ông Biện Thành P đến Tòa án để tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhiều lần nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do; Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành hành xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự:

Ông P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án nên ông P tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, ông P phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu của ông T, lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của ông T và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ để xem xét, giải quyết vụ án.

Căn cứ vào sự thừa nhận của ông Biện Thành P ngày 02/10/2023, biên bản ghi lời khai ngày 26/7/2023 tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã G, tỉnh Bạc Liêu ông P thừa nhận có nợ tiền thuê cắt lúa của ông T là 65.100.000đ. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự ghi nhận đây là sự thật.

Ông P trình bày cho rằng đã trả số tiền trên cho ông Võ Kim L, tuy nhiên ông L xác định không có nhận khoản tiền nào từ ông P hết. Do vậy có căn cứ buộc ông P có nghĩa vụ trả số tiền trên cho ông T là có căn cứ. Do ông T không yêu cầu tính lãi suất nên không đề cập giải quyết.

Đối ý kiến trình bày của ông Biện Thành P cho rằng đã giao số tiền 56.100.000₫ cho ông Võ Kim L thì có quyền yêu cầu ông L giao trả, trường hợp không tự thỏa thuận được có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thành vụ kiện khác.

[3] Xét phần trình phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai có căn cứ nên cần được chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Biện Thành P có nghĩa vụ phải nộp đối với yêu cầu của ông Nguyễn Thanh T được Tòa án chấp nhận cụ thể:

56.100.000₫ x 5% = 2.805.000đ. Ông Nguyễn Thanh T không phải nộp án phí, số tiền dự nộp tạm ứng án phí 1.402.500đ, lai thu số 0008847, ngày 03/6/2024 của tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai được nhận lại.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 227; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 513, Điều 514, Điều 515, Điều 518, Điều 519 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T đối với ông Biện Thành P về việc tranh chấp “Hợp đồng dịch vụ”.

    Buộc ông Biện Thành P có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thanh T số tiền 56.100.000đ (năm mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng).

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch buộc ông Biện Thành P nộp số tiền 2.805.000đ (hai triệu tám trăm lẽ năm nghìn đồng). Ông Nguyễn Thanh T được nhận lại số tiền dự nộp tạm ứng án phí 1.402.500đ, lai thu số 0008847, ngày 03/6/2024. Các đương sự nhận và nộp án phí tại Chi cục thi hành án dân sự.
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  4. Bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thõa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

- Nơi nhận:

  • + TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • + VKSND thị xã Giá Rai;
  • + Chi cục THADS huyện Giá Rai;
  • + Các đương sự;
  • + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Kiều Song Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 129/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Thanh Tú tranh chấp hợp đồng mua bán với ông Biện Thành Phong
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger