Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 129/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23-9-2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Phước.
  2. Ông Nguyễn Hồng Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim T, sinh ngày 06/02/1989; số CCCD [...]; địa chỉ: Thôn B - T - V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên lạc: B Q, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

- Bị đơn: Anh Văn Hữu P, sinh ngày 25/5/1987; số CCCD [...]; địa chỉ: Thôn B - T - V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 03-6-2024 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là chị Phạm Thị Kim T trình bày:

Chị Phạm Thị Kim T với anh Văn Hữu P tìm hiểu yêu nhau một thời gian, chung sống có tổ chức lễ cưới theo phong tục vào năm 2008; cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 01-12-2008 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi cưới, vợ chồng về chung sống tại nhà cha mẹ chồng ở thôn B - T - V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian 02 năm rồi chuyển ra xây nhà riêng ở trên đất của cha mẹ chồng tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thời gian đầu chung sống, anh P đi làm ăn xa ở Lào, còn chị ở nhà nuôi con. Sau này, anh P về quê còn chị vào làm việc tại Đà Nẵng. Khoảng giữa năm 2017, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nên chị T mang một người con vào sinh sống và làm việc tại Đà Nẵng. Cả hai sống ly thân từ đó cho đến nay.

Lý do yêu cầu ly hôn là quá trình chung sống, anh P có ngoại tình, hay uống rượu bia, nhậu nhẹt, bài bạc; không chăm lo cho gia đình; vợ chồng không chung sống với nhau. Tình trạng kéo dài nhưng không hàn gắn được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con: Vợ chồng có ba người con chung là cháu Văn Hữu Phạm N, sinh ngày 13/5/2011, cháu Văn Thị Như Ý, sinh ngày 07/8/2015 và cháu Văn Hữu Đức L, sinh ngày 13/5/2017. Hiện tại, cháu L đang ở với chị, còn hai cháu N và cháu Ý đang ở với anh P. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu giao cháu N cho anh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên; yêu cầu chị được trực tiếp nuôi cháu Ý và cháu L đến khi các cháu thành niên.

- Về cấp dưỡng: Chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu cấp dưỡng gì khác.

- Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 16-7-2024 và quá trình tố tụng, bị đơn là anh Văn Hữu P trình bày:

Anh thừa nhận việc đăng ký kết hôn và quá trình chung sống như chị T trình bày là đúng. Anh thừa nhận tình trạng mâu thuẫn với chị T. Tuy nhiên, anh thấy mâu thuẫn vợ chồng không quá trầm trọng. Anh không đồng ý ly hôn, mong muốn hòa giải để vợ chồng được đoàn tụ.

Về con: Anh thống nhất vợ chồng có ba người con chung như chị T trình bày. Nếu vợ chồng ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi cả ba con chung đến khi trưởng thành. Trong trường hợp, chị T không đồng ý thì anh đề nghị được nuôi hai cháu là cháu N và cháu Ý.

Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại Biên bản xác minh ngày 31-7-2024, bà Hoàng Thị B trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh P. Anh P và chị T chung sống với nhau có cưới hỏi; vợ chồng có ba người con chung. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng là gì thì bà không rõ. Hiện tại, cháu Văn Hữu Phạm N và Văn Thị Như Ý đang ở với anh P tại địa phương, còn cháu Văn Hữu Đức L đang ở với chị T tại Đà Nẵng.

Quá trình tố tụng, Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng anh P vắng mặt nên không tiến hành hoà giải được. Chị T giữ nguyên yêu cầu ly hôn nên Toà án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn nhiều lần vắng mặt là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Chị Phạm Thị Kim T và anh Văn Hữu P kết hôn hợp pháp; có ba con chung là cháu Văn Hữu Phạm N, sinh ngày 13-5-2011, cháu Văn Thị Như Ý, sinh ngày 07-8-2015 và cháu Văn Hữu Đức L, sinh ngày 13-5-2017.

Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho chị T ly hôn anh P; giao cháu L cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; giao hai cháu N và cháu Ý cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên; các vấn đề khác không có yêu cầu nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con khi ly hôn. Bị đơn là anh Văn Hữu P có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim T và anh Văn Hữu P kết hôn có đăng ký, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 01-12-2008. Thời điểm đăng ký, cả hai có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

[3] Về yêu cầu ly hôn: Trên cơ sở yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Kim T, ý kiến của anh Văn Hữu P; kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ về nguyên nhân mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, thấy rằng:

Chị T yêu cầu ly hôn với lý do anh P thiếu sự quan tâm, chăm lo cho gia đình, ngoài ra trong quá trình chung sống anh P có quan hệ tình cảm với người khác, vợ chồng ly thân đã lâu vì vậy chị không còn tình cảm với anh P. Quá trình giải quyết vụ án, anh P có nguyện vọng đoàn tụ nhưng không tham gia các phiên hòa giải. Tại phiên tòa anh P cũng không đưa ra ý kiến hoặc giải pháp gì để thay đổi tình trạng hôn nhân của vợ chồng. Xét thấy, vợ chồng mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn hạnh phúc gia đình. Cho thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu cho chị T ly hôn với anh P. Như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.

[4] Về con: Chị Phạm Thị Kim T và anh Văn Hữu P có 03 người con chung là cháu Văn Hữu Phạm N, sinh ngày 13/5/2011, cháu Văn Thị Như Ý, sinh ngày 07/8/2015 và cháu Văn Hữu Đức L, sinh ngày 13/5/2017. Chị T yêu cầu được giao trực tiếp nuôi hai cháu Ý và cháu L, giao cháu N cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu thành niên. Tại phiên tòa anh P cũng đề nghị xem xét được nuôi cháu N và cháu Ý.

Xét yêu cầu nuôi con của chị T được trực tiếp nuôi cháu Ý và cháu L, mặc dù cháu Ý có nguyện vọng được ở với mẹ, nhưng theo trình bày của chị T hiện đang thuê ở nhà tại Đà Nẵng, thu nhập của chị T làm công nhân may mặc (mỗi tháng bình quân 8.000.000 đồng) là không đảm bảo việc ăn ở sinh hoạt cho hai người con. Xét thấy từ khi vợ chồng không chung sống, chị T là người nuôi dưỡng cháu L, anh P là người nuôi dưỡng cháu N và cháu Ý. Hiện tại, cháu N và cháu Ý đang ăn học sinh hoạt ổn định với với anh P, xét điều kiện chổ ở và thu nhập của anh P làm nghề lái xe ô tô (mỗi tháng bình quân là 15.000.000 đồng) nên có điều kiện hơn chị T. Vì vậy, tiếp tục giao cháu N và cháu Ý cho anh P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu L cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Tại phiên tòa, mặc dù chị T là người trực tiếp trong việc chăm sóc nuôi cháu L và chị không yêu cầu, tuy nhiên anh P cũng tự nguyện hỗ trợ đóng góp cấp dưỡng nuôi cháu L mỗi tháng là 2.000.000 đồng cần công nhận, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của cháu. Việc cấp dưỡng nuôi con kể từ tháng 10/2024 cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi.

[5] Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.

[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn phải chịu án phí về yêu cầu ly hôn theo quy định. Bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Kim T và anh Văn Hữu P; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung:

Giao cháu cháu Văn Hữu Đức L, sinh ngày 13/5/2017 cho chị Phạm Thị Kim T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, kể từ khi ly hôn đến khi cháu L tròn 18 tuổi.

Giao cháu Văn Hữu Phạm N, sinh ngày 13/5/2011 và cháu Văn Thị Như Ý, sinh ngày 07/8/2015 cho anh Văn Hữu P trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, kể từ khi ly hôn đến khi các cháu tròn 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Anh Văn Hữu P đóng góp cấp dưỡng nuôi cháu Văn Hữu Đức L, sinh ngày 13/5/2017 mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ tháng 10/2024 cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị Kim T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000889 ngày 18-6-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; chị T đã nộp đủ án phí.

Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Văn Hữu P phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - CCTHADS huyện Phong Điền;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn HNGĐ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 129/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chi Phạm Thị Kim T và anh Văn Hữu P ly hôn do mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger