|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 129/2024/DS-ST Ngày 16-9-2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Lộc
Ông Trần Phi Hùng
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2023/TLST – DS ngày 10 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1944, có mặt
Bị đơn: Anh Lê N (Lê Văn N), sinh năm 1987, vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phan Hồng N1 (vợ ông N), vắng mặt
- Bà Lê Thị Ngọc H1, sinh năm 1974 (vợ ông H), vắng mặt
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 09/3/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Lê Văn H trình bày:
Ông và vợ là bà Từ Thị Đ có nhận chuyển nhượng phần đất toạ lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau cách đây khoảng 20 năm. Sau khi nhận chuyển nhượng thì cho con là anh Lê Vĩnh Lâm P đất này, anh L đứng tên quyền sử dụng đất. Đến năm 2011, bà Đ chết. Năm 2013 anh L chết, không để lại di chúc, lúc đó anh L chưa có vợ con. Do đó, ông là người thừa kế duy nhất. Năm 2014, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất trên, diện tích 7.973,9m², thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 19.
Sau khi anh L chết, ông cho anh N là con ruột thuê phần đất để lấy tiền làm đám giỗ cho bà Đ và anh L. Hai bên chỉ nói miệng, không làm hợp đồng thuê đất. Giá thuê mỗi năm là 10.000.000 đồng, trả tiền hàng năm.
Hai năm đầu anh N trả ông được 5.000.000 đồng, năm sau trả được 3.000.000 đồng, năm tiếp theo trả được 1.000.000 đồng. Do là cha con nên ông không tính toán tiền bạc với anh N, anh N trả bao nhiêu thì ông lấy bấy nhiêu. Tuy nhiên, từ năm 2020 đến nay anh N không tiếp tục trả tiền thuê đất nữa. Ông H nhiều lần đòi nhưng anh N không thanh toán tiền và cũng không trả đất lại cho ông.
Phần đất này ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 998172 vào ngày19/8/2015. Sau khi bà Đ chết, ông kết hôn với bà Lê Thị Ngọc H1, ông và bà H1 đăng ký kết hôn vào ngày 24/4/2015. Tuy nhiên, phần đất này là của riêng ông vì có trước khi kết hôn với bà H1.
Hiện tại, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đang quản lý, không cầm cố, thế chấp cho ai.
Nay ông yêu cầu anh N và vợ là chị N1 trả lại cho ông phần đất nêu trên. Về tiền thuê đất ông rút lại, không yêu cầu nữa.
Đối với 13 cây dừa trên đất do anh N trồng thì ông thống nhất trả lại giá trị theo định giá là 4.155.000 đồng. Đối với chi phí đo đạc, định giá, sao lục hồ sơ, ông yêu cầu anh N, chị N1 trả lại cho ông 4.155.000 đồng, phần chi phí còn lại ông tự nguyện chịu.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Ông H giữ nguyên trình bày và yêu cầu như đã nêu trên.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 259 Bộ luật tố tụng dân sự tạm ngừng phiên toà để thu thập giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh L để đảm bảo giải quyết triệt để vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Lê Văn H khởi kiện yêu cầu anh Lê N, chị Phan Hồng N1 trả lại phần đất tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau và trả tiền thuê đất. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Các đương sự được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh N, chị N1, bà H1 vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
[3] Theo Bản trích đo hiện trạng và Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất của Công ty trách nhiệm hữu hạn P1 thì phần đất tranh chấp giữa các đương sự có vị trí, kích thước, diện tích theo đo đạc thực tế như sau: Mặt tiền giáp Kênh 500 mốc M1-M4 dài 44,74m; Mặt hậu giáp đất ông Nguyễn Văn C, đất ông Trần Văn K mốc M2-M3 dài 51,08m, cạnh phải (nhìn từ mặt tiền) giáp đất bà Lê Ngọc D mốc M4-M3 dài 133,89m, cạnh trái (nhìn từ mặt tiền) giáp đất anh Lê Năm M M1-M2 dài 134,02m, diện tích 6.413,8m², tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
[4] Xét nguồn gốc phần đất tranh chấp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu tạm ngừng phiên toà của Kiểm sát viên:
Tại phiên toà, ông H xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của ông và vợ là bà Đ nhận chuyển nhượng của người khác, sau đó cho lại anh L và anh L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi bà Đ, anh L chết, đều không để lại di chúc thì ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xét thấy, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp thì phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của vợ chồng ông H, bà Đ, được nhà nước cấp năm 1995. Ông H được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất theo quyết định số 3622/QĐ-UBND ngày 04/8/2015 của Ủy ban nhân dân huyện T. Đến ngày 19/8/2015, ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 998172, thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 19, diện tích 7.973,9m², toạ lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Như vậy, ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, không phải qua giao dịch nhận chuyển nhượng, tặng cho hay thừa kế. Từ thời điểm ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay không có ai khiếu nại, khởi kiện tranh chấp gì. Mặc khác, ông H không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh việc trước đây phần đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh L nên không có cơ sở xem xét lời trình bày của ông H. Từ những chứng cứ trên, có cơ sở xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H được cấp là hợp pháp và có giá trị pháp lý. Việc phần đất trước đây có cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh L hay chưa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên việc tạm ngừng phiên toà để thu thập giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh L là không cần thiết, từ đó không chấp nhận đề nghị tạm ngừng phiên toà của Kiểm sát viên.
[5] Xét quá trình sử dụng đất:
Phần đất trước đây là của ông H, bà Đ. Sau đó, ông H, bà Đ tặng cho con trai là anh L. Sau khi anh L chết thì ông H cho anh N thuê phần đất. Mặc dù ông H không xuất trình được giấy tờ cho thuê đất nhưng ông H là người được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, anh N không đến Toà án và không có ý kiến phản đối gì đối với trình bày của ông H. Tại biên bản hoà giải ngày 19/8/2002 của Ban N2, xã T, anh N xác định “phần đất tranh chấp là của anh L nên khi anh L chết nếu ông H không thờ thì anh N thờ, vì vậy anh N không đưa tiền. Ngoài ra, anh N xác định ông H đã có vợ khác cũng đã có phần đất riêng. Anh N không cho ông H chuyển nhượng quyền sử dụng 01 công đất dư và không trả tiền mướn đất”. Như vậy, có căn cứ xác định trình bày của ông H về việc cho anh N thuê mướn phần đất là đúng sự thật.
Đối với bà H1, mặc dù đăng ký kết hôn trước khi ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng 04 tháng. Tuy nhiên, nguồn gốc phần đất không có liên quan đến bà H1, bà H1 cũng không sử dụng, canh tác phần đất này. Mặc khác, tại giấy xác nhận ngày 27/7/2024, bà H1 xác định phần đất này không phải do bà và ông H tạo nên. Tại vụ án, bà H1 cũng không có yêu cầu gì.
Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy, phần đất tranh chấp do ông H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H thừa nhận cho anh Lâm phần đất này. Khi anh L chết, không có di chúc, lúc đó bà Đ cũng đã chết, anh L không có vợ con. Như vậy, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của anh L cũng chỉ có ông H. Xét về mọi mặt, ông H cũng là người có quyền sử dụng phần đất này.
Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về việc yêu cầu anh N, chị N1 trả lại phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế có diện tích 6.413,8m², tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
[6] Đối với yêu cầu anh N trả tiền thuê đất số tiền 39.000.000 đồng, do tại phiên toà, ông H rút lại không yêu cầu nữa nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này. Ông H có quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
[7] Về tài sản trên đất: Trên phần đất tranh chấp anh N có trồng 13 cây dừa. Theo định giá có giá trị 4.155.000 đồng. Tại phiên toà, ông H tự nguyện thanh toán lại cho anh N, chị N1 số tiền này nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do ông H đã trả giá trị cây trồng nên ông có quyền quản lý, sử dụng, khai thác các cây trồng trên.
[8] Các vấn đề khác:
Về chi phí tố tụng, bao gồm: Chi phí đo đạc số tiền 6.623.000 đồng; chi phí định giá tài sản số tiền 6.156.000 đồng, chi phí sao lục hồ sơ số tiền 150.000 đồng, tổng cộng là 12.929.000 đồng. Ông H đã nộp xong. Tại phiên toà ông H yêu cầu anh N, chị N1 thanh toán lại 4.155.000 đồng, phần còn lại là 8.774.000 đồng ông H tự nguyện chịu. Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, nên anh N, chị N1 phải trả lại cho ông H 4.155.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh N, chị N1 phải chịu theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 217; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 166, Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H về việc yêu cầu anh Lê N (Lê Văn N), chị Phan Hồng N1 trả lại quyền sử dụng đất:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H về việc yêu cầu anh Lê N (Lê Văn N), chị Phan Hồng N1 trả tiền thuê đất với số tiền 39.000.000 đồng (Ba mươi chín triệu đồng). Ông H có quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
- Về thành quả lao động trên đất: Buộc ông H trả lại cho anh N, chị N1 giá trị 13 cây dừa trên đất với số tiền 4.155.000 đồng (Bốn triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng), ông H được quyền quản lý, sử dụng, khai thác các cây trồng này.
- Trường hợp anh N, chị N1 có đơn yêu cầu thi hành án, ông H chậm thanh toán khoản tiền này thì ông H phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Các vấn đề khác:
Buộc anh N, chị N1 trả lại cho ông H phần đất diện tích 6.413,8m², có tứ cận: Mặt tiền giáp Kênh 500 mốc M1-M4 dài 44,74m; Mặt hậu giáp đất ông Nguyễn Văn C, đất ông Trần Văn K mốc M2-M3 dài 51,08m, cạnh phải (nhìn từ mặt tiền) giáp đất bà Lê Ngọc D mốc M4-M3 dài 133,89m, cạnh trái (nhìn từ mặt tiền) giáp đất anh Lê Năm M M1-M2 dài 134,02m, tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (có sơ đồ kèm theo).
Buộc anh N, chị N1 thanh toán lại cho ông H chi phí tố tụng số tiền 4.155.000 đồng (Bốn triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Ông H tự chịu chi phí tố tụng còn lại là 8.774.000 đồng (Tám triệu bảy trăm bảy mươi bốn nghìn đồng, đã nộp xong).
Trường hợp ông H có đơn yêu cầu thi hành án, anh N, chị N1 chậm thanh toán khoản tiền này thì anh N, chị N1 phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về án phí: Anh N, chị N1 chịu án phí số tiền 16.580.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng, làm tròn số).
Ông H được miễn án phí do là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí.
Ông H có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Bảo Trâm |
Bản án số 129/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Số bản án: 129/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H - Lê Văn N: QSD đất
