Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 129/2024/HSST

Ngày 24 tháng 4 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Ngọc Sáng; ông Đỗ Đức Hùng.

Những người tiến hành tố tụng khác:

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng, Thư ký Toà án thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2024/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Cao T, sinh năm 1996 ( Tên gọi khác: Không)

    HKTT: khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

    Giới tính: Nam ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1967 và bà Đàm Thị X, sinh năm 1970; Gia đình có 03 anh em bị cáo thứ út; Có vợ là Lê Thị L, sinh năm 2001 (đã ly hôn); Con: có 01 con, sinh năm 2019;

    Tiền án, tiền sự: không;

    Nhân thân:

    • + Ngày 05/10/2016 bị Công an thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi cố ý gây thương tích. Tính chấp hành xong quyết định ngày 11/7/2018.
    • + Ngày 14/8/2021 bị Công an huyện Đ, Thành phố Hà Nội xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi cố ý gây thương tích. Tính chấp hành xong quyết định ngày 13/9/2021.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến nay tại Trại giam Công an tỉnh B ( Có mặt tại phiên tòa).

  2. Nguyễn Thế H, sinh năm 1985 ( Tên gọi khác: Không)

    HKTT: khu phố N, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

    Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Nguyễn Thế B, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957; Gia đình có 3 chị em bị cáo thứ 3; Có vợ là Lê Thị Q, sinh năm 1986; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2011;

    Tiền án, tiền sự: không;

    Nhân thân: Bản án số 46/2013/HSST ngày 30/12/2013 của Toà án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt H 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 19 tháng 12 ngày về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. H đã chấp hành xong toàn bộ Bản án ngày 12/8/2015.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2023 đến ngày 02/8/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh ( Có mặt tại phiên tòa).

  3. Phạm An G, sinh năm 1988 ( Tên gọi khác: Không)

    ĐKHKTT: thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Hiện đang tạm trú: khu phố T, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

    Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Đoàn thể: Đảng viên Đ1 (hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng). Con ông Phạm Văn B1, sinh năm 1956 ( đã chết) và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1961; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út; Có vợ là: Lê Thị T3, sinh năm 1989; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021.

    Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2023 đến ngày 11/9/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh ( Có mặt tại phiên tòa).

  4. Đỗ Tuấn A, sinh năm 1992 ( Tên gọi khác: Không)

    HKTT: thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

    Giới tính: Nam Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Đỗ Văn L1, sinh năm 1966 và bà Lê Thị T4, sinh năm 1967; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út; Vợ là Nguyễn Thị T5, sinh năm 1995; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018;

    Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/7/2023 đến ngày 23/7/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ( Có mặt tại phiên tòa).

  5. Nguyễn Duy T6, sinh năm 1991 ( Tên gọi khác: Không)

    HKTT: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

    Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Nguyễn Duy B2, sinh năm 1960 và bà Chử Thị T7, sinh năm 1959; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo con út; Vợ là Tạ Thị H1, sinh năm 1997 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2016;

    Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày từ ngày 20/7/2023 đến ngày 29/7/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú ( Có mặt tại phiên tòa).

  6. Ngô Quốc N, sinh năm 1992 ( Tên gọi khác: Không)

    HKTT: khu phố N, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

    Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Ngô Văn P, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1971; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo con út; Vợ là Nguyễn Thị P1, sinh năm 1996; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022.

    Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ( Có mặt tại phiên tòa).

  7. Nguyễn Ngọc L2, sinh năm 1997 ( Tên gọi khác: Không)

    HKTT: khu phố N, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

    Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn B3, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Châu L3, sinh năm 1971; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo con út; Vợ là Phù Thị Hương Q1, sinh năm 1999; Có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023

    Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ( Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Vũ Khắc T8, sinh năm 1992, HKTT: khu phố K, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Lê Văn T9, sinh năm 1963, HKTT: khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
  3. Nguyễn Văn C1, sinh năm 1961, HKTT: thôn V, xã V, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
  4. Nguyễn Văn B4, sinh năm 1987, HKTT: thôn Q, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Đều vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 40 phút ngày 06/7/2023, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công an phường P tiến hành kiểm tra hành chính tại lán trại trên bờ ruộng thuộc khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh do Lê Cao T là người trong khu phố tự ý dựng lên và trực tiếp quản lý. Tại thời điểm kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện một nhóm đối tượng đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi đá gà, lợi dụng sơ hở một số đối tượng đã bỏ chạy thoát. Lực lượng Công an đã tiến hành kiểm tra hành chính 13 đối tượng gồm: Đỗ Văn Q2, sinh năm 1971; Đỗ Tấn P2, sinh năm 1998, cùng HKTT: thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Văn B5, sinh năm 1985; Vũ Văn K, sinh năm 1973, cùng HKTT: khu phố V, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Trần Văn N1, sinh năm 1979; Lưu Văn D1, sinh năm 1990, cùng HKTT: khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Ngô Diên T10, sinh năm 1974, HKTT: khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Chử Văn P3, sinh năm 1976, HKTT: khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Danh T11, sinh năm 1970, HKTT: khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Đình T12, sinh năm 1982, HKTT: thôn A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn S, sinh năm 1994, HKTT: xóm T, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Hoàng Văn L4, sinh năm 1978, HKTT: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Thế H, sinh năm 1985, HKTT: khu phố N, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

Vật chứng thu giữ:

  • + 02 con gà, trong đó 01 con gà có lông màu xám (gọi là gà xám) và 01 con gà lông màu ô chuối (gọi là gà chuối), mỗi con nặng 2,6kg. Có bản ảnh chụp 02 con gà lưu hồ sơ vụ án.

Ngày 07/7/2023, 08/7/2023, 14/7/2023, 20/7/2023, 26/7/2023, 18/8/2023 Nguyễn Thế H, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Duy T6, Phạm An G, Ngô Quốc N và Nguyễn Ngọc L2 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú và giao nộp:

  • + H giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB, màu vàng, IMEI: 353101101983343, lắp sim số 0985.685.363 và số tiền 2.710.000 đồng.

Ngày 07/7/2023 Vũ Khắc T8, Lê Văn T9, Nguyễn Văn B4 và Nguyễn Văn C1 đến cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T làm việc và giao nộp:

  • + Vũ Khắc T8 giao nộp số tiền 500.000 đồng.
  • + Lê Văn T9 giao nộp số tiền 3.000.000 đồng.
  • + Nguyễn Văn B4 giao nộp số tiền 2.000.000 đồng.
  • + Nguyễn Văn C1 giao nộp số tiền 1.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Ngô Quốc N và Nguyễn Thế H đều có sở thích nuôi gà chọi. Khoảng tháng 7/2022, N có cho H 01 con gà xám để H nuôi. Đến khoảng tháng 5/2023, H có bảo với N mang con gà về nuôi vì H không biết chăm, sợ gà ốm chết. N đồng ý mang gà xám về chăm. H và N thống nhất khi nào gà xám đi đá thì cả hai sẽ cùng đi.

Khoảng tháng 4/2023, Lê Cao T tự ý dựng lán trại trên bờ ruộng thuộc khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh để nuôi gà và rủ bạn bè đến chơi đá gà. Tính là người trực tiếp quản lý lán trại.

Sáng ngày 06/7/2023, Đỗ Tuấn A; Nguyễn Ngọc L2; Phạm An G; Nguyễn Duy T6; Đỗ Tiến P4; Hoàng Văn L4; Nguyễn Danh T11; Nguyễn Văn B5; Nguyễn Văn S; Chử Văn P3; Nguyễn Đình T12; Vũ Văn K; Đỗ Văn Q2; Ngô Diên T10; Trần Văn N1; Lưu Văn D1; Hoàng Văn L4; Vũ Khắc T8; Lê Văn T9; Nguyễn Văn C1; Nguyễn Văn B4; Bùi Văn D2, sinh năm 1976, HKTT: thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và một số người khác đến lán trại của T chơi và xem đá gà.

Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 06/7/2023, T gọi điện cho N hỏi: “Nay có gà 26 nào không mang sang vần” (ý của T là có gà cân nặng 2,6kg thì mang sang lán của T để chơi đá gà) thì N đồng ý. Lúc này, N đang ngồi cùng H. N nói chuyện với H về việc T rủ mang gà đến đá, N dự định mang gà xám H và N nuôi chung trước đó đi và rủ H đến lán trại của T, H đồng ý và đi bộ đến lán của T. Sau đó, T nói với mọi người đang chơi ở nhà T: “Có ai có gà 26 không thì mang đến ghép gà”. Tuấn A trả lời có rồi về nhà lấy 01 con gà chuối.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, N mang gà xám và Tuấn A mang gà chuối đến lán của T. N, Tuấn A, H và G cho 02 con gà vào cân thì thấy mỗi con đều nặng 2,6kg. Sau đó, N đi về nhà ăn cơm.

Lúc này, khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, các đối tượng nảy sinh ý định đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đá gà. Trước khi cho gà vào đá, theo Tuấn A khai nhận Tuấn A đặt số tiền cá cược là 1.000.000 đồng vào gà chuối ăn 1.000.000 đồng với 01 người đàn ông bên phía gà xám (quá trình điều tra chưa xác định được người này) đặt tiền cá cược vào gà xám thắng trong cả buổi đá gà. Hai bên thống nhất gà chuối chấp gà xám bọc mỏ 03 phút đầu. Sau đó, Tuấn A tiếp tục đặt thêm số tiền cá cược là 500.000 đồng vào gà chuối ăn 500.000 đồng với 01 người đàn ông bên phía gà xám (quá trình điều tra chưa xác định được người này). Hai bên cho gà vào cót quây bằng cao su đã được dựng sẵn tại lán trại của T. Sau 03 phút chọi nhau, gà chuối tháo bọc mỏ. Lúc này, gà chuối có lợi thế hơn gà xám.

* H trực tiếp đánh bạc:

  • Kèo 01: H cược với người đàn ông tên T13 (khoảng 40 tuổi, quá trình điều tra chưa xác định được người này) độ 7 ăn 10. H đặt số tiền cá cược là 7.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với T13 đặt tiền cá cược vào gà chuối.
  • Kèo 02: H cược với Nguyễn Duy T6 độ 2,5 ăn 5. H đặt số tiền cá cược là 2.500.000 đồng vào gà xám ăn 5.000.000 đồng với T6 đặt tiền cá cược vào gà chuối.
  • Kèo 03: H cược với người đàn ông tên H3 (khoảng 35 - 40 tuổi, ở tại thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, quá trình điều tra chưa xác định được) độ 5 ăn 10. H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với H3 đặt tiền cá cược vào gà chuối.
  • Kèo 04: H cược với Đỗ Tuấn A độ 5 ăn 10. H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với Tuấn A đặt tiền cá cược vào gà chuối.
  • Kèo 05: H cược với Đỗ Tuấn A độ 30 ăn 15. H đặt số tiền cá cược là 30.000.000 đồng vào gà xám ăn 15.000.000 đồng với Tuấn A đặt tiền cá cược vào gà chuối.
  • Kèo 06: H cược với người đàn ông tên T13 (người cược với H kèo 01) độ 2 ăn 5. H đặt số tiền cá cược là 2.000.000 đồng vào gà chuối ăn 5.000.000 đồng với T13 đặt tiền cá cược vào gà xám.
  • Kèo 07: H cược với Lê Văn T9 02 độ gồm:
    • + Độ 0,5 ăn 1. H đặt số tiền cá cược là 500.000 đồng vào gà chuối ăn 1.000.000 đồng với T9 đặt tiền cá cược vào gà xám.
    • + Độ 1 ăn 2. H đặt số tiền cá cược là 1.000.000 đồng vào gà chuối ăn 2.000.000 đồng với T9 đặt tiền cá cược vào gà xám.
  • Kèo 08: H đặt cược với Nguyễn Văn C1 độ 0,5 ăn 1. H đặt số tiền cá cược là 500.000 đồng vào gà chuối ăn 1.000.000 đồng với C1 đặt tiền cá cược vào gà xám.
  • Kèo 09: H cược với người đàn ông tên M (khoảng 40 tuổi, thường gọi là Mạnh C2, ở thôn V, xã V, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, quá trình điều tra chưa xác định được) độ 0,5 ăn 01. H đặt số tiền cá cược là 500.000 đồng vào gà chuối ăn 1.000.000 đồng với M đặt tiền cá cược vào gà xám.
  • Kèo 10: H cược với Nguyễn Duy T6 độ 2 ăn 5. H đặt số tiền cá cược là 2.000.000 đồng vào gà chuối ăn 5.000.000 đồng với T6 đặt tiền cá cược vào gà xám.
  • Kèo 11: H cược với Nguyễn Văn B4 độ 0,7 ăn 2. H đặt số tiền cá cược là 700.000 đồng vào gà chuối ăn 2.000.000 đồng với B4 đặt tiền cá cược vào gà xám.
  • Kèo 12: H cược với Vũ Khắc T8 02 độ gồm:
    • + Độ 0,5 ăn 1. H đặt số tiền cá cược là 500.000 đồng vào gà chuối ăn 1.000.000 đồng với T8 đặt tiền cá cược vào gà xám.
    • + Độ 0,2 ăn 2. H đặt số tiền cá cược là 200.000 đồng vào gà chuối ăn 2.000.000 đồng với T8 đặt tiền cá cược vào gà xám. Về độ này, T8 khai cược hộ Dương Văn C3. Tuy nhiên, C3 khai không nhờ T8 đánh bạc.
  • Kèo 13: H cược với người đàn ông tên D2 (quá trình điều tra chưa xác định được người này) độ 2 ăn 10. H đặt số tiền cá cược là 2.000.000 đồng vào gà chuối ăn 10.000.000 đồng với D2 đặt tiền cá cược vào gà xám.
  • Kèo 14: H cược với người đàn ông tên H3 (đã cược cùng H kèo 03). H đặt cược 2 độ:
    • + Độ 1 ăn 5. H đặt số tiền cá cược là 1.000.000 đồng vào gà chuối ăn 5.000.000 đồng với H3 đặt tiền cá cược vào gà xám.
    • + Độ 0,8 ăn 10. H đặt số tiền cá cược là 800.000 đồng vào gà chuối ăn 10.000.000 đồng với H3 đặt tiền cá cược vào gà xám.
  • Kèo 15: H đặt cược với người thanh niên tên Đ (quá trình điều tra chưa xác định được người này) độ 1 ăn 5. H đặt số tiền cá cược là 1.000.000 đồng vào gà chuối ăn 5.000.000 đồng với Đ đặt tiền cá cược vào gà xám.
  • Kèo 16: H đặt cược với người thanh niên tên C4 (quá trình điều tra chưa xác định được người này) độ 1 ăn 10. H đặt số tiền cá cược là 1.000.000 đồng vào gà chuối ăn 10.000.000 đồng với C4 đặt tiền cá cược vào gà xám.

* Các đối tượng chung kèo với H:

Khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, N quay lại lán trại của T. Trong lúc H đặt cược gà xám thắng (các kèo số 01, kèo 02, kèo 03, kèo 04) thì có Ngô Quốc N, Phạm An G, Nguyễn Ngọc L2, người đàn ông tên T13 và Lê Cao T có biết H cá cược nên tự xin theo chung cược với H. H đã đồng ý. Cụ thể như sau:

  • Ngô Quốc N sử dụng tổng số 3.400.000 đồng để góp chung với H 02 kèo. Gồm:
    • + N sử dụng 2.400.000 đồng để góp chung với H. N và H đặt số tiền cá cược là 7.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với T13 đặt tiền cá cược vào gà chuối (kèo 01).
    • + N sử dụng 1.000.000 đồng để góp chung với H. N và H đặt số tiền cá cược là 2.500.000 đồng vào gà xám ăn 5.000.000 đồng với T6 đặt tiền cá cược vào gà chuối (kèo 02).
  • Phạm An G sử dụng 2.500.000 đồng để góp chung với H. G và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với H3 đặt tiền cá cược vào gà chuối (kèo 03).
  • Nguyễn Ngọc L2 sử dụng 1.500.000 đồng để góp chung với H. L2 và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với H3 đặt tiền cá cược vào gà chuối (kèo 03).
  • Người đàn ông tên T13 (người cược với H kèo 01 và 06) sử dụng 500.000 đồng để góp chung với H. T13 và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với Tuấn A đặt tiền cá cược vào gà chuối (kèo 04).
  • Lê Cao T sử dụng 500.000 đồng để góp chung với H. T và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với Tuấn A đặt tiền cá cược vào gà chuối (kèo 04).

Cáo trạng số 40/CTr ngày 31 tháng 3 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Lê Cao T về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Thế H, Phạm An G về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đỗ Tuấn A, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Ngọc L2, Ngô Quốc N đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều khai nhận như sau:

Lê Cao T khai nhận: Bị cáo có tự ý dựng lên một lán trại trên bờ ruộng thuộc khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh và trực tiếp quản lý. Ngày 06/7/2023, bị cáo cho các đối tượng nêu trên đến đánh bạc bằng hình thức chơi đá gà ăn tiền. Giữa bị cáo và chủ gà không có thỏa thuận về việc các chủ gà phải trả cho bị cáo cụ thể bao nhiêu tiền mà sau khi kết thúc buổi đá gà các chủ gà đưa cho bị cáo bao nhiêu thì đưa và bị cáo cũng chưa nhận được đồng nào từ chủ gà vì chưa kết thúc buổi đá gà đã bị công an bắt. T là người gọi điện cho N hỏi có gà 26 nào không thì mang sang vần và bảo mọi người đang chơi ở nhà T có ai có gà 26 không thì mang đến ghép gà. Ngoài ra bị cáo còn sử dụng 500.000 đồng để góp chung với H. Bị cáo và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng ăn 10.000.000 đồng với Tuấn A.

Nguyễn Thế H khai: Bị cáo và N có nuôi chung con gà xám, ngày 06/7/2023 N có rủ H mang gà xám đến lán trại của T. Tại đây, H có trực tiếp cá cược vào 02 con gà với 12 người. Trong đó N, G, L2, T và một người tên T13 góp chung với H là 8.400.000 đồng. Còn H đặt cược riêng ở các kèo là 63.800.000 đồng. H không nhờ G chăm sóc gà xám.

Phạm An G khai: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 06/7/2023, khi G đến lán của T thì thấy H ngồi cạnh gà xám. H có nhờ G khi nào gà xám vào chọi thì G chăm sóc gà xám hộ H. G đồng ý và trong suốt quá trình hai con gà chọi nhau, G đã trực tiếp cho gà xám uống nước, xoa bóp, rửa cho gà xám từ khi bắt đầu các hiệp đá gà đến khi lực lượng Công an đến kiểm tra. Khi 02 con gà vào chọi nhau, G thấy H hô các kèo đánh bạc với mọi người. Lúc này, G mới biết H đánh bạc bằng hình thức đá gà với mọi người. G có sử dụng 2.500.000 đồng để góp chung với H đặt tiền cá cược là 5.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với H3.

Đỗ Tuấn A khai: Gà chuối là bị cáo mang đến lán của T do trước đó T rủ mang đến để ghép gà, bị cáo là người chăm sóc gà chuối, G chăm sóc gà xám. Bị cáo trực tiếp đặt tiền cá cược vào gà chuối với H và 02 người đàn ông bên phía gà xám với tổng số tiền là 26.500.000 đồng. Giữa bị cáo và T không có thỏa thuận gì về việc phải đưa cho T bao nhiêu tiền. Nhưng khi nào kết thúc buổi đá gà thì bị cáo sẽ đưa cho T vài trăm nghìn đồng.

Nguyễn Duy T6 khai: Trưa ngày 06/7/2023 T6 có đến lán trại của T chơi và xem đá gà. Tại đây, T6 có trực tiếp đặt tiền cá cược vào 02 con gà với H tổng số tiền là 10.000.000 đồng.

Ngô Quốc N khai: Nam có mang con gà xám của N và H đến lán trại của T. G là người chăm sóc gà xám trong suốt buổi đá gà, bị cáo không nhờ G chăm sóc gà xám còn ai nhờ bị cáo không rõ. Tại đây, N có tham gia cá cược 3.400.000 đồng góp cùng H để đặt cá cược 9.500.000 đồng nếu thắng sẽ được 15.000.000 đồng của T13 và T6. N và T cũng không có thỏa thuận với T phải trả bao nhiêu tiền cho T mà khi kết thúc buổi đá gà thì N sẽ trả cho T vài trăm nghìn.

Nguyễn Ngọc L2: Bị cáo có sử dụng 1.500.000 đồng để góp chung với H. L2 và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng ăn 10.000.000 đồng với H3. Tổng số tiền L2 đánh bạc là 5.000.000 đồng.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Nguyễn Thế H đã tự nguyện nộp số tiền đánh bạc là 61.590.000 đồng tại Chi cục Thi hành án thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn phân tích lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Cao T phạm tội “ Đánh bạc” và “Gá bạc”;

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế H, Phạm An G, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Ngọc L2, Ngô Quốc N đã phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Lê Cao T từ 15 đến 18 tháng tù

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Điều 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Lê Cao T từ 08 đến 11 tháng tù

Phạt bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự. Buộc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hại tội từ 23 đến 29 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/11/2023.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Nguyễn Thế H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Phạm An G 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điều 17, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đỗ Tuấn A từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Xử phạt: Nguyễn Duy T6, Ngô Quốc N mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc L2 từ 08 đến 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 22 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Giao các bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB, màu vàng, IMEI: 353101101983343.
    • + Số tiền 2.710.000 đồng của Nguyễn Thế H
    • + Số tiền 500.000 đồng của Vũ Khắc T8.
    • + Số tiền 3.000.000 đồng của Lê Văn T9.
    • + Số tiền 2.000.000 đồng của Nguyễn Văn B4 .
    • + Số tiền 1.000.000 đồng của Nguyễn Văn C1.
  • - Truy thu số tiền các bị cáo, người liên quan đánh bạc sung ngân sách nhà nước cụ thể:
    • + Truy thu của Nguyễn Thế H số tiền 61.590.000 đồng.
    • + Truy thu của Đỗ Tuấn A số tiền 26.500.000đồng
    • + Truy thu của Nguyễn Duy T6 số tiền 10.000.000 đồng.
    • + Truy thu của bị cáo Phạm An G số tiền 2.500.000 đồng.
    • + Truy thu của bị cáo Nguyễn Ngọc L2 số tiền 1.500.000 đồng.
    • + Truy thu của bị cáo Lê Cao T số tiền 500.000 đồng.
    • + Truy thu của bị cáo Ngô Quốc N số tiền 3.400.000 đồng.
    • + Truy thu của Vũ Khắc T8 số tiền 2.500.000 đồng.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0985.685.363 lắp trong điện thoại bị tịch thu của H.
  • - Tạm giữ số tiền của các bị cáo Nguyễn Thế H 61.590.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Trong phần tranh luận, các bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Khi nói lời sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các bị cáo.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 12 giờ 30 phút đến 13 giờ 40 phút ngày 06/7/2023, tại lán trại trên bờ ruộng thuộc khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh do Lê Cao T tự ý dựng lên và trực tiếp quản lý, T đã cho Nguyễn Thế H, Phạm An G, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Ngọc L2, Ngô Quốc N và một số đối tượng khác có hành vi đánh bạc bằng hình thức đặt tiền cá cược vào cuộc đá gà giữa 02 con gà chuối và gà xám để sau kết thúc trận đấu các chủ gà phải trả tiền cho T. Ngoài ra, T sử dụng 500.000 đồng để góp chung với H. T và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng ăn 10.000.000 đồng với Tuấn A. Tổng số tiền T sử dụng để đánh bạc là 5.000.000 đồng. Nguyễn Thế H đã trực tiếp đặt tiền cá cược vào 02 con gà với 12 người. Trong đó số tiền N, G, L2, 01 người đàn ông tên T13, T góp chung với H là 8.400.000 đồng. Số tiền H đặt cược riêng là 63.800.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc là 72.200.000 đồng. Phạm An G sử dụng 2.500.000 đồng để góp chung với H. G và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với H3. Tổng số tiền G đánh bạc là 5.000.000 đồng. Ngoài ra, G chăm sóc gà xám cho H từ khi bắt đầu đá gà đến khi lực lượng Công an đến kiểm tra. Đỗ Tuấn A đã trực tiếp đặt tiền cá cược vào gà chuối với H và 02 người đàn ông bên phía gà xám (quá trình điều tra chưa xác định được 02 người này), với tổng số tiền là 26.500.000 đồng. Nguyễn Duy T6 đã trực tiếp đặt tiền cá cược vào 02 con gà với H, tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Ngô Quốc N sử dụng tổng số 3.400.000 đồng để góp chung với H. N và H đặt số tiền cá cược là 9.500.000 đồng ăn tổng số 15.000.000 đồng với T13, T6. Tổng số tiền N đánh bạc là 9.500.000 đồng. Nguyễn Ngọc L2 sử dụng 1.500.000 đồng để góp chung với H. L2 và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng ăn 10.000.000 đồng với H3. Tổng số tiền L2 đánh bạc là 5.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Lê Cao T đã phạm tội “ Gá bạc” và “ Đánh bạc”; hành vi của bị cáo Nguyễn Thế H, Phạm An G, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Ngọc L2, Ngô Quốc N đã phạm tội “ Đánh bạc. Bị cáo Nguyễn Thế H đánh bạc với tổng số tiền là 72.200.000 đồng nên bị cáo H chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm An G chăm sóc gà xám cho H từ khi bắt đầu đá gà đến khi lực lượng Công an đến kiểm tra, do đó G đã giúp sức cho H đánh bạc đặt cược vào 02 con gà với tổng số tiền là 72.200.000 đồng nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố các bị cáo Lê Cao T về tội “ Gá bạc” và “ Đánh bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Nguyễn Thế H, Phạm An G về tội “ Đánh bạc” theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Đỗ Tuấn A, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Ngọc L2, Ngô Quốc N là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo: Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, mỗi bị cáo thực hiện hành vi với tính chất, mức độ khác nhau nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo cụ thể:

Bị cáo T là người tự dựng lán trại trên bờ ruộng thuộc khu phố P, phường P, thành phố T và trực tiếp quản lý để cho các đối tượng đến tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà nhằm mục đích thu tiền, bị cáo là người chủ động gọi điện cho N, Tuấn A mang gà đến lán của bị cáo. Hành vi của bị cáo là tiền đề cho các bị cáo khác phạm tội. Nếu không có hành vi cho các bị cáo đến lán trại của mình để tụ tập, đánh bạc bằng hình thức cá cược đá gà để thu tiền thì sẽ không có tội phạm xảy ra. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Thế H đã trực tiếp đặt tiền cá cược vào 02 con gà với 12 người. Trong đó số tiền N, G, L2, 01 người đàn ông tên T13, T góp chung với H là 8.400.000 đồng. Số tiền H đặt cược riêng là 63.800.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc là 72.200.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự nên trong tội Đánh bạc, bị cáo phải chịu mức hình phạt cao nhất.

Bị cáo Phan Văn G1 sử dụng 2.500.000 đồng để góp chung với H, G1 và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng vào gà xám ăn 10.000.000 đồng với H3. Tổng số tiền G1 đánh bạc là 5.000.000 đồng, G1 trực tiếp chăm sóc gà xám cho H từ khi bắt đầu đá gà đến khi lực lượng Công an đến kiểm tra nên G1 phải chịu trách nhiệm về tổng số tiền H đánh bạc với vai trò giúp sức. Do vậy, G1 phải chịu mức hình phạt cao thứ 2.

Bị cáo Đỗ Tuấn A đã trực tiếp đặt tiền cá cược vào gà chuối với H và 02 người đàn ông bên phía gà xám, với tổng số tiền là 26.500.000 đồng nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo Nguyễn Duy T6 đã trực tiếp đặt tiền cá cược vào 02 con gà với H, tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Bị cáo Ngô Quốc N sử dụng tổng số 3.400.000 đồng để góp chung với H. N và H đặt số tiền cá cược là 9.500.000 đồng ăn tổng số 15.000.000 đồng với T13, T6. Tổng số tiền N đánh bạc là 9.500.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Ngọc L2 sử dụng 1.500.000 đồng để góp chung với H. L2 và H đặt số tiền cá cược là 5.000.000 đồng ăn 10.000.000 đồng với H3. Tổng số tiền L2 đánh bạc là 5.000.000 đồng, Do đó, bị cáo T6, Nam chịu mức hình phạt ngang nhau và cao hơn bị cáo L2.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt. Riêng bị cáo H có nhân thân xấu, tại bản án số 46/2013/HSST ngày 30/12/2013 của Toà án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt H 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 19 tháng 12 ngày về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. H đã chấp hành xong toàn bộ Bản án ngày 12/8/2015.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Tuấn A, N, L2, T6 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i Điều 51 BLHS. Bị cáo H, G1, Tuấn A, T6, N và L2 sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện các bị cáo tự nhận thức được hành vi nên đã ra đầu thú; Bị cáo H năm 2021 đã được Học viện Q3, Trung tâm Đ2 cấp giấy chứng nhận đã có nhiều đóng góp cho việc bảo tồn, gìn giữ, phát triển và quảng bá văn hoá võ thuật cổ truyền dân tộc và trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền đánh bạc tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn; bị cáo Tuấn A có ông nội là ông Đỗ Văn H4 là liệt sỹ; bị cáo Phạm An G đã tham gia nghĩa vụ quân sự đã hoàn thành xuất ngũ về địa phương nên các bị cáo H, G, Tuấn A, T6, N, L2 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Lê Cao T ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Thế H tuy đã bị xét xử nhưng bị cáo đã chấp hành xong bản án từ năm 2015. Căn cứ nghị quyết 02/2028/NQ – HĐTP của Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Các bị cáo Phạm An G, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Ngọc L2, Ngô Quốc N có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục.

Ngoài ra, các bị cáo đều phạm tội với động cơ trục lợi. Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB, màu vàng, IMEI: 353101101983343. Đây là công cụ, phương tiện bị cáo H đã sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với sim lắp trong điện thoại nêu trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 2.710.000 đồng của Nguyễn Thế H; 500.000 đồng của Vũ Khắc T8; 3.000.000 đồng của Lê Văn T9; 2.000.000 đồng của Nguyễn Văn B4; 1.000.000 đồng của Nguyễn Văn C1 là tiền sử dụng để đánh bạc nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền các bị cáo, người liên quan sử dụng để đánh bạc cần buộc các bị cáo, người liên quan nộp lại để sung ngân sách nhà nước cụ thể:

  • + Truy thu của Nguyễn Thế H số tiền 61.590.000 đồng.
  • + Truy thu của Đỗ Tuấn A số tiền 26.500.000đồng
  • + Truy thu của Nguyễn Duy T6 số tiền 10.000.000 đồng.
  • + Truy thu của bị cáo Phạm An G số tiền 2.500.000 đồng.
  • + Truy thu của bị cáo Nguyễn Ngọc L2 số tiền 1.500.000 đồng.
  • + Truy thu của bị cáo Lê Cao T số tiền 500.000 đồng.
  • + Truy thu của bị cáo Ngô Quốc N số tiền 3.400.000 đồng.
  • + Truy thu của Vũ Khắc T8 số tiền 2.500.000 đồng.

Tạm giữ số tiền 61.590.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thế H đã nộp tại Chi cục thia hành án dân sự thành phố T để đảm bảo thi hành án.

[5] Liên quan trong vụ án còn có:

Đối với H3, khoảng 35 – 40 tuổi, ở tại thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (theo lời khai của Nguyễn Văn B4); Đ; M khoảng 40 tuổi (thường gọi là Mạnh Con) ở thôn V, xã V, huyện Đ, Thành phố Hà Nội (theo lời khai của H); T13, khoảng 40 tuổi (theo lời khai của H); C4 có hành vi đánh bạc với H. Tuy nhiên, H khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh tại Công an xã Đ và Công an xã V hiện chưa xác định được H3, Đ và M. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ các đối tượng H3, Đ, M, T13, C4 sẽ đề nghị xử lý sau.

Đối với hành vi đánh bạc của Lê Văn T9, Vũ Khắc T8, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn B4. Các đối tượng không có tiền án, tiền sự và số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc ngày 06/7/2023 chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố T lập hồ sơ và ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lê Cao T phạm tội "Đánh bạc" và “ Gá bạc”.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế H, Phạm An G, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Ngọc L2, Ngô Quốc N phạm tội “ Đánh bạc”

Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự

Xử phạt: Lê Cao T từ 15 ( Mười lăm) tháng tù về tội “ Gá bạc” và 08 ( T14) tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 23 (Hai mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/11/2023. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Phạt bị cáo từ 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Nguyễn Thế H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bị cáo 30.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Phạm An G 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điều 17, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đỗ Tuấn A 12 ( Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước

Xử phạt: Nguyễn Duy T6, Ngô Quốc N mỗi bị cáo 10 ( Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt mỗi bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc L2 08 (T14) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước

Giao các bị cáo Nguyễn Thế H, Phạm An G, Ngô Quốc N và Nguyễn Ngọc L2 cho UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; bị cáo Đỗ Tuấn A cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; bị cáo Nguyễn Duy T6 cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB, màu vàng, IMEI: 353101101983343.
    • + Số tiền 2.710.000 đồng của Nguyễn Thế H
    • + Số tiền 500.000 đồng của Vũ Khắc T8.
    • + Số tiền 3.000.000 đồng của Lê Văn T9.
    • + Số tiền 2.000.000 đồng của Nguyễn Văn B4 .
    • + Số tiền 1.000.000 đồng của Nguyễn Văn C1.
  • - Truy thu số tiền các bị cáo, người liên quan đánh bạc sung ngân sách nhà nước cụ thể:
    • + Truy thu của Nguyễn Thế H số tiền 61.590.000 đồng.
    • + Truy thu của Đỗ Tuấn A số tiền 26.500.000đồng.
    • + Truy thu của Nguyễn Duy T6 số tiền 10.000.000 đồng.
    • + Truy thu của bị cáo Phạm An G số tiền 2.500.000 đồng.
    • + Truy thu của bị cáo Nguyễn Ngọc L2 số tiền 1.500.000 đồng.
    • + Truy thu của bị cáo Lê Cao T số tiền 500.000 đồng.
    • + Truy thu của bị cáo Ngô Quốc N số tiền 3.400.000 đồng.
    • + Truy thu của Vũ Khắc T8 số tiền 2.500.000 đồng.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0985.685.363 lắp trong điện thoại bị tịch thu của H.
  • - Tạm giữ số tiền của bị cáo Nguyễn Thế H 61.590.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn để đảm bảo thi hành án.

Án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quản bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai ./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP Từ Sơn;
  • - Công an TP Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS TP Từ Sơn;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về hình sự: đánh bạc và gá bạc

  • Số bản án: 129/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Đánh bạc và Gá bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Cao T Tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger