|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 129/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 5 - 2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh
Ông Trần Công Danh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên
tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý: 134/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 151/2024/QĐHPT-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Phú Thị Hồng N, sinh năm 2001
Địa chỉ: số H, ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1996
Địa chỉ cư trú: số F, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Phú Thị Hồng N trình bày:
- Về quan hệ tình cảm: Bà Phú Thị Hồng N và ông Nguyễn Văn V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11/2023 ngày 16/02/2023. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn do ông V vướng vào các tệ nạn xã hội nên không tu chí làm ăn và thất nghiệp. Nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ cuối tháng 11 năm 2023, kinh tế độc lập, không ai quan tâm chăm sóc gì nhau. Nay bà N không còn tình cảm gì với ông V, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.
- Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Bà N cho rằng trong quá trình chung sống với nhau, bà N và ông V không có con chung, không có tài sản chung và cũng không nợ ai chung. Nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt, không trình bày ý kiến và cung cấp tài liệu chứng cứ gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Bà Phú Thị Hồng N được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp:
Bà Phú Thị Hồng N khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn V. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định bà N là nguyên đơn, ông V là bị đơn. Căn cứ Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”.
Nguyên đơn bà Phú Thị Hồng N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Phú Thị Hồng N và bị đơn ông Nguyễn Văn V theo quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo Trích lục kết hôn số 468/TLKH – BS ngày 19/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai và Biên bản xác minh của tại Công an phường B, thành phố B ngày 28/02/2024 thể hiện ông Nguyễn Văn V đang cư trú tại phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định yêu cầu khởi kiện của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phú Thị Hồng N và ông Nguyễn Văn V chung sống với tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11/2023 ngày 16/02/2023. Đối chiếu quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xác định hôn nhân của bà N và ông V là hợp pháp.
Xét thấy: Sau khi kết hôn bà N và ông V chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, bà N cho rằng ông V đã phạm vào các tệ nạn xã hội nên không tu chí làm ăn và thất nghiệp. Nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ cuối tháng 11 năm 2023 cho đến nay không ai còn quan tâm chăm sóc gì nhau, kinh tế độc lập. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông V thì Ủy ban nhân dân phường B thể hiện ông V bà N không có con chung, về tài sản chung và nợ chung thì không có đơn yêu cầu giải quyết, trong quá trình chung sống ông V bà N có phát sinh mâu thuẫn hay không địa phương không nắm do không ai trình báo yêu cầu giải quyết. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông V theo quy định nhưng ông V không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, điều đó cho thấy ông V đã bỏ mặc hôn nhân của mình và không muốn hàn gắn lại với bà N. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà N và ông V trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phú Thị Hồng N đối với ông Nguyễn Văn V.
[3.2] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà N khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Nguyên đơn bà Phú Thị Hồng N phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phú Thị Hồng N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn V về việc “ly hôn”.
Cho bà Phú Thị Hồng N được ly hôn ông Nguyễn Văn V.
- Về án phí: Bà Phú Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002038 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà Phú Thị Hồng N, ông Nguyễn Văn V được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Quốc Bảo |
Bản án số 129/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 129/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phú Thị Hồng N được ly hôn với ông Nguyễn Văn V