Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 129/2024/DS-PT

Ngày: 16-8-2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất”

 

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Bà Ngô Thị Kim Châu
Ông Huỳnh Đắc Đương

Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 13 và ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:109/2024/QĐXXPT-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Cà H, sinh năm: 1935.

    Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

    Người đại diện theo uỷ quyền cho bà Thạch Thị Cà H: ông Thạch Sa M, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản uỷ quyền ngày 28/4/2022) (có mặt).

  • - Bị đơn: Ông Thạch S, sinh năm: 1955.

    Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Thạch S: Ông Thạch Trần Thế N, sinh năm 1990. Địa chỉ: số G, khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản uỷ quyền ngày 08/4/2024) (có mặt).

  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thạch S:
    1. Bà Trần Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).
    2. Luật sư Kim Ron T – Công ty L, đoàn luật sư tỉnh T (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Thạch Sa M, sinh năm: 1975.
    2. Bà Thạch Thị N1, sinh năm: 1975.
    3. Bà Thạch Thị M1, sinh năm: 1997.
    4. Ông Thạch N2, sinh năm: 1999.

    Bà Thạch Thị N1, Thạch Thị M1, ông Thạch N2 uỷ quyền tham gia tố tụng cho ông Thạch Sa M theo văn bản uỷ quyền ngày 22/02/2023 (có mặt).

    Cùng địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

    1. Bà Thạch Thị H2, sinh năm: 1955.

    Bà Thạch Thị H2 uỷ quyền tham gia tố tụng cho ông Thạch K theo văn bản uỷ quyền ngày 16/11/2023 (có mặt).

    1. Ông Thạch Sa M2 (S), sinh năm: 1982.

    Ông Thạch Sa M2 uỷ quyền tham gia tố tụng cho ông Thạch K theo văn bản uỷ quyền ngày 21/3/2023 (có mặt).

    1. Ông Thạch Sa M3, sinh năm: 1984.
    2. Ông Thạch Sa R, sinh năm: 1989.

    Ông Thạch Sa R uỷ quyền tham gia tố tụng cho ông Thạch K theo văn bản uỷ quyền ngày 16/11/2023 (có mặt).

    Ông Thạch Sa M3 uỷ quyền tham gia tố tụng cho ông Thạch K theo văn bản uỷ quyền ngày 01/02/2024.

    1. Bà Thạch Thị Sa R1, sinh năm: 1994.
    2. Bà Phan Thị Lệ R2, sinh năm: 1996.

    Bà Thạch Thị Sa R1, Phan Thị Lệ R2 uỷ quyền tham gia tố tụng cho ông Thạch K theo văn bản uỷ quyền ngày 16/11/2023 (có mặt).

    Cùng địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

    1. Ngân hàng N3 – Chi nhánh huyện C. Người đại diện: Ông Từ Bá T1 – Giám đốc (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

    Địa chỉ: Khóm E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người kháng cáo: ông Thạch S là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/3/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông Thạch Sa M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Thạch Thị Cà H có thửa đất số 361, tờ bản đồ số 04, diện tích 820m² loại đất cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh, đất được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 05/02/1993 cho bà Thạch Thị Cà H đứng tên. Đất của bà H giáp ranh với thửa đất 351, tờ bản đồ số 04, diện tích 570m². Trong quá trình sử dụng, phía ông Thạch S đã lấn chiếm qua phần đất của gia đình bà H ngang 12m, dài 20m, diện tích lấn chiếm là 240m². Theo kết quả khảo sát thì phần diện tích đất tranh chấp có kí hiệu là A diện tích 111m² và B diện tích 20,1m², còn phần diện tích đất tranh chấp còn lại có kí hiệu A1, B2, B1 là phần đất lấn kênh nên không yêu cầu giải quyết.

Nay bà H yêu cầu ông Thạch S phải trả lại cho bà H diện tích đất đã chiếm theo kết quả khảo sát thực tế là phần diện tích đất tranh chấp có kí hiệu là A diện tích 111m² và B diện tích 20,1m² thuộc thửa đất số 361, tờ bản đồ số 04 trong tổng diện tích 820m² loại đất cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh T.

Bà H thống nhất theo biên bản thẩm định và định giá ngày 16/11/2022 mà không có yêu cầu thẩm định, định giá lại.

Đối với 04 bụi chuối trên đất thì bà H đồng ý trả giá trị theo giá do Hội đồng định giá định. Đối với hàng rào lưới B40 và trụ đá mà ông S rào thì bà H yêu cầu ông S tháo dỡ đi, bà không hỗ trợ chi phí di dời gì.

Bà H không đồng ý bồi thường công sức gìn giữ, tôn tạo đất theo yêu cầu của ông S là khoảng 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) và số tiền 6.080.000đ (sáu triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) mà ông S cho rằng đã trả cho bà C từ việc bà C đã san lắp nền nhà trên đất tranh chấp. Nếu ông S yêu cầu bồi thường công sức gìn giữ tôn tạo đất thì bà H chỉ đồng ý bồi thường theo quy định pháp luật.

Ông Thạch Sa M đại diện theo ủy quyền của bà Thạch Thị N1, Thạch Thị M1, ông Thạch N2 trình bày: Bà Thạch Thị N1, Thạch Thị M1, ông Thạch N2 thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu trên của bà H, không có trình bày hay yêu cầu gì thêm.

Ông Thạch S là bị đơn trình bày:

Phần diện tích đất tranh chấp nằm trước cửa nhà bà H, cách nhà ông khoảng 2km. Phần diện tích đất này do ông đang sử dụng, ông đã sử dụng phần diện tích đất này từ năm 1994 cho đến nay. Hiện nay trên đất chỉ có trồng chuối và các cây trồng ngắn hạn như củ lùn. Trên đất ông có cặm trụ đá và rào lưới B40 khoảng 3 - 4m để ngăn không cho gà vịt ra ruộng.

Hiện trạng đất này vào năm 1994 khi ông sử dụng là đất cây lâu năm, cặp kinh là có hàng tre và dừa là do ông trồng, đến khoảng năm 2017 thì ông có cho chị ông là bà Thạch Thị C1 đến cất nhà để ở vì Nhà nước có cho nhà tình thương cho bà C1, thì khi đó bà C1 có thuê xáng múc đến phá bụi tre cặp kinh và chặt dừa, múc đất kinh lên bồi đắp lên phần đất, sau đó bà C1 không cất nhà được do ông và bà C1 không thống nhất được vị trí cất nhà nên bà C1 không cất nhà nữa và ông phải trả lại tiền cho bà C1 số tiền là 6.080.000đ (sáu triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) mà bà C1 đã san lắp nền nhà trên đất tranh chấp. Sau đó ông lại tiếp tục sử dụng đất này để trồng chuối và các cây ngắn hạn như bắp, củ lùn và ông trực tiếp sử dụng luôn cho đến nay.

Nay ông không đồng ý trả lại phần diện tích đất trên cho bà H vì phần đất này là có nguồn gốc là của cha vợ ông là ông Thạch M4 cho vợ ông là Thạch Thị H2 nhưng không hiểu vì sao bà H được cấp giấy. Theo kết quả khảo sát thì phần diện tích đất tranh chấp có kí hiệu là A diện tích 111m² và B diện tích 20,1m², còn phần diện tích đất tranh chấp còn lại có kí hiệu A1, B2, B1 là phần đất lấn kênh nên ông không yêu cầu giải quyết.

Nay ông không đồng trả lại phần diện tích đất tranh chấp theo kết quả khảo sát có ký hiệu A, B cho bà H.

Ông S thống nhất theo biên bản thẩm định và định giá ngày 16/11/2022 mà không có yêu cầu thẩm định, định giá lại.

Trong trường hợp Tòa án xử buộc ông phải trả lại phần diện tích đất tranh chấp cho bà H thì ông yêu cầu bà H phải trả lại cho ông công sức gìn giữ, tôn tạo đất cho ông từ trước đến nay là khoảng 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) và số tiền 6.080.000đ (sáu triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) là số tiền mà ông đã trả cho bà C1 từ việc bà C1 đã san lắp nền nhà trên đất tranh chấp.

Đối với 04 bụi chuối trên đất thì ông S yêu cầu bà H trả giá trị theo giá do Hội đồng định giá định. Đối với hàng rào lưới B40 và trụ đá mà ông S rào thì ông S đồng ý tự tháo dỡ di dời đi và yêu cầu bà H bồi thường hỗ trợ chi phí di dời cho ông là 5.000.000đ (năm triệu đồng).

Ông Thạch K đại diện theo ủy quyền của bà Thạch Thị H2, ông Thạch Sa M2 (S), bà Thạch Thị Sa R1, Phan Thị Lệ R2, ông Thạch Sa M3, Thạch Sa R trình bày:

Bà Thạch Thị H2, ông Thạch Sa M2 (S), bà Thạch Thị Sa R1, Phan Thị Lệ R2, ông Thạch Sa M3, Thạch Sa R thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu trên của ông S, không có ý kiến yêu cầu gì thêm

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã xử:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 164, 166, 175, 176, 357, 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Cà H;

Buộc ông Thạch S phải trả lại cho bà Thạch Thị Cà H phần diện tích đất có A diện tích 111m² và B diện tích 20,1m² nhằm chiết thửa 361, tờ bản đồ số 04 trong tổng diện tích 820m² loại đất cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh T do bà Thạch Thị Cà H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có sơ đồ khảo sát kèm theo).

Giao 04 bụi chuối có trên đất tranh chấp cho bà H được tiếp tục sử dụng. Bà Cà H phải thanh toán lại giá trị của bốn bụi chuối là 160.000đ (một trăm sáu mươi nghìn đồng) cho ông Thạch S.

Buộc ông Thạch S phải tháo dỡ di dời hàng rào lưới B40 cùng trụ đá ra khỏi phần diện tích đất tranh chấp trên để trả lại đất cho bà H. Bà H không phải hỗ trợ chi phí di dời.

Đối với các phần đất theo sơ đồ khảo sát có ký hiệu A1, B2, B1 là phần đất lấn kênh, do các đương sự không tranh chấp không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Buộc bà Thạch Thị Cà H phải thanh toán cho ông Thạch S công sức giữ gìn, tu bổ, cải tạo làm tăng giá trị của đất là 6.080.000đ (sáu triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.

Ngày 02 tháng 4 năm 2024 ông Thạch S kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 20/03/2024 cuả Tòa án nhân dân huyện Cầu kè, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 361, tờ bản số 04, diện tích 820m², tọa lạc ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh do bà Thạch Thị Cà H đứng tên. Công nhận quyền sử dụng đất phần diện tích đất có A diện tích 111m² và B diện tích 20,1m² nhằm chiết thửa đất số 04 trong tổng diện tích 820m² tọa lạc ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Các đương sự không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ mới và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng.

Quan điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Thạch S trình bày: Sau khi phân tích nội dung vụ án, nguyên đơn cũng thừa nhận phía ông Thạch S sử dụng đất năm 1994 trở về sau và trước khi ông S sử dụng đất thì cha vợ ông S là ông M4 sử dụng, căn cứ vào Công văn 398/UBND-NC ngày 28/12/2022 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thạch Thị Cà H là đúng trình tự thủ tục và đúng chủ thể, tuy nhiên qua nội dụng vụ án và lời khai phần đất này đã được gia đình ông Thạch S sử dụng từ trước 1975 từ ông Thạch M4 đến ông S, đến khi có tranh chấp một vụ kiện khác ở thửa 351, chính vì vậy phía nguyên đơn mới phát hiện phần đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới khởi kiện, cho nên việc Ủy ban nhân dân huyện C trả lời việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thạch Thị Cà H đúng chủ thể chưa phù hợp với thực tế, bởi vì phía gia đình ông S đã sử dụng ổn định trước khi bà Thạch Thị Cà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1993, cấp sơ thẩm buộc phía ông S trả đất cho bà H, buộc bà H trả cho ông S 6.080.000 đồng do bà C1 đổ đất, tuy nhiên việc xem xét công sức cải tạo gìn giữ đối với phần đất này cấp sơ thẩm xem xét chưa phù hợp, bởi lẽ số tiền đó bằng với số tiền trả tiền đất của phía ông S, cấp sơ thẩm chưa tính đến công sức cải tạo đất này. Vì vậy cần phải đưa hộ gia đình ông M4 và Ủy ban nhân dân huyện C vào tham gia tố tụng, do đó kháng cáo của ông Thạch S là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Thạch S.

Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa hôm nay: Đối với kháng cáo của ông Thạch S thấy rằng, việc bà Thạch Thị Cà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 361 vào năm 1993 nhưng bà H không biết được thửa đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà, phần đất tranh chấp này được phía bị đơn sử dụng từ trước đến nay, đến năm 2017 ông S cho bà C1 đổ đất cất nhà, bà H không ngăn cản đến khi bà H tranh chấp với các thửa đất khác thì Ủy ban nhân dân xã đã đo đạt mới xác định phần đất tranh là còn thuộc quyền sử dụng của bà H, thì đó bà H mới tranh chấp với ông S (bút lục 254) đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đại diện cho nguyên đơn cũng khẳng định đất tranh chấp này phía gia đình bị đơn sử dụng từ đó đến nay, gia đình phía nguyên đơn không sử dụng phần đất này, đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; lời khai của bà C1 cho rằng phần đất tranh chấp có một phần đất của bà H một phần đất của ông S nhưng bà không xác định được phần đất nào của bà H, vị trí A, hay B thửa đất 361, lời khai của bà C1 có sự mâu thuẫn khi bà không sử dụng đất mà đòi tiền đổ đất từ ông S, bà C1 với ông S phát sinh mâu thuẫn có tranh chấp ra Ủy ban nhân dân xã, vì vậy lời khai của bà C1 không đáng tin cậy trong khi chính nguyên đơn cũng thừa nhận phần đất tranh chấp phía gia đình bị đơn đang sử dụng, phía bị đơn xây dựng hàng rào phía nguyên đơn cũng không có tranh chấp. Ủy ban nhân dân huyện C xác định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đúng trình tự thủ tục, ranh giới, chủ thể, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định pháp luật về đất đai, nhưng hồ sơ cấp giấy thửa đất 361 không có biên bản ký giáp ranh, xác định mốc giới của hai thửa đất, trong khi gia đình ông M4 đang sử dụng sau đó cho ông S sử dụng. Như vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 361 cho hộ bà H là không đúng chủ thể quyền sử dụng đất theo quy định khoản 1 Điều 20 Luật đất đai 1993, đối chiếu với quy định trên Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, nhưng bà H không sử dụng phần đất đang chấp tranh là không đúng đối tượng, phía gia đình ông S sử dụng đất từ trước thời điểm năm 1993 bà H được cấp giấy chứng nhận đất đến nay là trên 30 năm, đây thuộc trường hợp ông S chiếm hữu ngay tình, công khai, ổn định theo Điều 180, 182, 183 và Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015. Tuy nhiên cấp sơ thẩm bị đơn không có yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với phần tranh chấp này và không có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân huyện C vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nên không cần thiết phải đưa Ủy ban nhân dân huyện C vào tham gia tố tụng. Từ những phần tích trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Thạch S. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Thạch S còn trong hạn pháp luật quy định, nội dung và hình thức đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Thạch S, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại Công văn số: 111/CV-CNHCK ngày 26/12/2022 của Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C thì phần diện tích đất tranh chấp có kí hiệu là A diện tích 111m² và B diện tích 20,1m² nhằm chiết từ thửa 361, còn phần diện tích đất tranh chấp còn lại có kí hiệu A1, B2, B1 là phần đất lấn kênh. Các đương sự thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định nêu trên.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện thửa đất số 361, tờ bản đồ số 04, diện tích 820m², loại đất cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thạch Thị Cà H vào ngày 05/02/1993. Theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất. Tại Công văn số 398/UBND-NC ngày 28/12/2022 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời “Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thạch Thị Cà H đối với thửa đất số 361, tờ bản đồ số 4, diện tích 820m², loại đất: LNK, địa chỉ đất ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh đúng trình tự, thủ tục, ranh giới, chủ thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai”.

[3] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp của ông Thạch S thừa nhận thửa đất mà vợ chồng ông được ông Thạch M4 cho là thửa đất 351, diện tích 570m² giáp ranh với phần diện tích tranh chấp thuộc thửa 361 của bà Cà H quản lý nhưng do ông Thạch S đã sử dụng đất phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa 361 đã từ rất lâu, trong khi bà Cà H trước giờ không có sử dụng thời gian nào nên ông S không đồng ý trả lại, ông S yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 361 cấp cho bà Thạch Thị Cà H và công nhận phần diện tích đất đang tranh chấp thuộc thửa 361 cho ông S. Xét thấy, yêu cầu của ông Thạch S là hoàn toàn không có căn cứ bởi, thửa 361 đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thạch Thị Cà H, từ khi bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay không có ai khiếu nại hay tranh chấp gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 361 cho bà H, lời khai ban đầu của ông Thạch S cho rằng phần đất tranh chấp vợ chồng ông được ông Thạch M4 cho trước năm 1994 nhưng quá trình giải quyết vụ án ông Thạch S không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của ông là có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự; mặt khác, theo kết quả cung cấp thông tin đất đai thì từ năm 1994 đến nay ông S không có đứng ra kê khai đăng ký hay được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gì đối với phần diện tích đất đang tranh chấp thuộc thửa 361 cũng như kết quả theo phiếu cung cấp thông tin đất đai thì ông Thạch M4 chỉ có 03 thửa đất là thửa đất 106, diện tích 5.010m² loại đất thổ quả; thửa đất 351, diện tích 570m² loại đất lâu năm và thửa đất 360, diện tích 5.580m² loại đất ruộng cùng tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vì vậy diện tích 570m² thuộc thửa 351 đến năm 2021 ông mới được cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực đất đai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, qua quá trình tiến hành tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xác minh theo văn bản trả lời của Cơ quan quản lý đất đai là Ủy ban nhân dân huyện C cho rằng 1991 bên ông Thạch M4 và Thạch Thị Cà H đã chỉ ranh giới và xác định được ranh giới, vì vậy cơ quan chuyên môn tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp từ đó đến nay không ai tranh chấp. Mặc khác theo bà Thạch Thị C2 vào năm 2017 bà là người trực tiếp hỏi bà Thạch Thị Cà H để khai phá một phần của thửa 361 để bà được cất nhà tình thương một phần của thửa 361 và thửa 351 của ông M4 cho bà H2 và ông S, tuy nhiên chưa xác định cụ thể được vị trí thỏa thuận giữa bà với ông S, từ đó bà không cất nhà tình thương cho đến nay. Từ những căn cứ nêu trên xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Cà H là có căn cứ.

[4] Theo biên bản định giá, giá trị tài sản tranh chấp 131,1m² tương đương 25.957.800 đồng, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay ông Thạch Sa M người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn bà Thạch Thị Cà H tự nguyện tính công sức tôn tạo, gìn giữ trên 10 năm của ông Thạch S và bà H2 với số tiền tương đương 50% giá trị đất tranh chấp với số tiền 12.979.000 đồng là thể hiện sự tự nguyện không trái với đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Thạch S theo nhận định trên của Hội đồng xét xử, sửa án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện hợp pháp của bà Thạch Thị Cà H, việc sửa án của cấp sơ thẩm, cấp sơ thẩm không có lỗi.

[5] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Thạch S và đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm đã được Hội đồng xét xử xem xét, tuy nhiên chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và tình tiết khách quan của vụ án nên không được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không bị cải sửa có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo kháng nghị.

[7] Về án phí dân sự: Ông Thạch S là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí dân sự phúc thẩm nên ông Thạch S không phải chịu án phí.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 164, 166, 175, 176, 357, 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 166, 170, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Thạch S.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Cà H;

Buộc ông Thạch S phải trả lại cho bà Thạch Thị Cà H phần diện tích đất có A diện tích 111m² và B diện tích 20,1m² thuộc 01 phần của thửa 361, tờ bản đồ số 04 trong tổng diện tích 820m² loại đất cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh T do bà Thạch Thị Cà H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có sơ đồ khảo sát kèm theo).

Phần diện tích đất tranh chấp có tứ cận như sau:

  • Hướng Tây Bắc giáp thửa đất số 361, có kích thước cạnh là 22,30m;
  • Hướng Đông Bắc giáp thửa đất số 351, có kích thước cạnh là 6,57m;
  • Hướng Đông Nam giáp phần đất có kí hiệu B2, A1, B1 có kích thước cạnh lần lượt là 1,5m; 4,5m; 16,3m;
  • Hướng Tây Nam giáp thửa đất số 361, có kích thước cạnh là 5,57m.

Công nhận cho bà Thạch Thị Cà H tiếp tục sử dụng.

Buộc ông Thạch S phải tháo dỡ di dời hàng rào lưới B40 cùng trụ đá ra khỏi phần diện tích đất tranh chấp trên để trả lại đất cho bà H. Bà H không phải hỗ trợ chi phí di dời.

Đối với các phần đất theo sơ đồ khảo sát có ký hiệu A1, B2, B1 là phần đất lấn kênh, do các đương sự không tranh chấp không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Bà Thạch Thị Cà H phải thanh toán cho ông Thạch S công sức giữ gìn, tu bổ, cải tạo làm tăng giá trị của đất là 12.979.000 đồng, tương đương 50 % giá trị tài sản tranh chấp.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Thạch S được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Cầu Kè;
  • - Chi cục THADS huyện Cầu Kè;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/DS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 129/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thạch Thị Cà Hên - Thạch Sang Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger