|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 129/2024/HSST Ngày: 15 - 07 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Phạm Thị Nhung;
- 2/ Bà Lê Thị Sao.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Huỳnh Thị Thúy T - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 118/2024 /HSST ngày 24 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HS ngày 24/06/2024 đối với bị cáo:
Mai Đức H; sinh năm 1999, tại: TP .; Hộ khẩu thường trú: 274A đường HT13, phường H, Quận A, TP .; chỗ ở hiện nay: D D, phường T, quận T, TP Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Đức T1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; vợ: Nguyễn Tài L1, sinh năm 1998; con: 01 người (sinh năm 2020).
- Nhân thân: ngày 02/03/2016 bị Tòa án nhân dân TP. Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 03 năm tù về tội: “Cướp tài sản” theo Bản án số 17/2016/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/02/2018 (Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số: 142/GCN của Trại giam L3).
- Tiền án, tiền sự: không.
- Bị bắt tạm giữ ngày 31/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T7 và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 28/10/2023, Mai Đức H cùng vợ là Nguyễn Tài L1 rủ Hoàng Văn T2, Dương Đăng K (sinh ngày 01/05/2006), Huỳnh Minh L2, đến căn hộ của H tại P.3.4 nhà số D D phường T, quận T chơi. Đến ngày 30/10/2023, H điện thoại rủ thêm Phạm Quốc H1, Phạm Ngọc T3, Bùi Anh D, Phạm Thanh T4, đến căn hộ để tổ chức ăn uống. Lúc này vợ chồng H và L1 đang ở nhà ba mẹ của H tại Quận A, TP . nên H chạy về căn hộ trước, còn L1 thì ở lại để gửi con cho ba mẹ H trông giữ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày H cùng với T2, K, L2, H1, T3, D tổ chức ăn uống tại phòng khách. Đến khoảng 00 giờ 00 ngày 31/10/2023 thì T4 và Nguyễn Ngọc Phúc C (sinh ngày 29/08/2006), là bạn T4 cũng đến. Sau đó, H rủ cả nhóm vào bên trong phòng ngủ (phòng bên trái) để sử dụng ma tuý thì K, L2, H1, T3, D, T4, C đồng ý, riêng T2 thì không sử dụng nên nằm ngủ tại phòng khách. Khi vào phòng thì H lấy bàn DJ (H thuê trước đó) và mở nhạc nghe, rồi H qua phòng ngủ riêng (bên phải) lấy 01 gói ma tuý khay và các dụng cụ gồm: 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 bật lửa, rồi quay lại phòng (bên trái) tự xào nấu ma tuý một mình và H chia ma tuý thành nhiều đường khay. Sau khi chuẩn bị ma tuý xong thì H kêu cả nhóm gồm có K, L2, H1, T3, D, T4, C vào phòng sử dụng ma túy. Khi vào phòng H sử dụng ma tuý trước. Sử dụng xong H đặt đĩa sứ có ma tuý trên tấm nệm để K, L2, H1, T3, D, T4, C lấy sử dụng, mỗi người sử dụng ma tuý 02 lượt. Sau khi sử dụng xong thì đi ngủ. Đến khoảng 02 giờ 30 phút sáng ngày 31/10/2023 thì L1 (vợ H) về, lúc này trên đĩa sứ còn lại một ít ma tuý nên L1 lấy sử dụng một mình hết. Số ma túy khay đưa ra sử dụng là của một mình H mua về cất giấu và đem ra cho K, L2, H1, T3, D, T4, C cùng sử dụng, không phải trả tiền mua ma túy, tiền phòng và tiền thuê các dụng cụ phục vụ việc sử dụng ma túy.
Đến khoảng 10 giờ sáng ngày 31/10/2023, thì Cơ quan Công an vào kiểm tra bắt quả tang. Qua kiểm tra phòng ngủ riêng của vợ chồng H (phòng bên phải) Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ gồm: 01 hộp giấy bên trong có: 01 hộp giấy màu đen chứa 02 gói nylon tinh thể không màu (m1), 02 gói nylon, trong đó có: 01 gói nylon chứa nhiều viên nén màu hồng (m2) và 01 gói nylon chứa nhiều viên nén màu xanh (m3); 01 hộp nhựa màu hồng hình tròn bên trong có 08 gói nylon chứa tinh thể không màu (m4); 01 hộp giấy hình vuông, bên trong có: 01 gói nylon chứa nhiều viên nén màu vàng (m5), 01 gói nylon chứa nhiều viên nén xanh (m6), 01 gói nylon chứa nhiều viên nén màu xanh lá cây (m7), 01 gói nylon chứa nhiều viên nén màu tím (m8), 01 gói nylon chứa nhiều viên nén mảnh vụn viên nén (m9). Số ma tuý này H mua của Lê Văn T5 (không rõ lai lịch) trước đó khoảng 10 ngày với số tiền 40.000.000 đồng với mục đích cất giấu để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán. Lộc vợ của H không biết H mua ma túy, cũng không biết H cất giữ ma túy trong phòng. (BL: 32-33)
Tại Cơ quan điều tra, Mai Đức H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập. (BL: 35-52)
Tại kết luận giám định số 12318/KL-KTHS ngày 08/11/2023 của Phòng K2 Công an Thành phố T7, kết luận: (BL:56 -57)
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là ma tuý đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 20,3359g, loại Ketamine.
- Nhiều viên nén màu hồng được ký hiệu mẫu m2 cần giám định, đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,6142g, loại MDMA.
- Nhiều viên nén màu xanh lá cây được ký hiệu mẫu m3 cần giám định, đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,2865g, loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine.
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m4 cần giám định, đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 7,4849g, loại Ketamine.
- Nhiều viên nén màu vàng được ký hiệu mẫu m5 cần giám định, đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 11,5714g, loại MDMA.
- Nhiều viên nén màu xanh được ký hiệu mẫu m6 cần giám định, đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 9,3510g, loại Ketamine.
- Nhiều viên nén màu xanh lá cây được ký hiệu mẫu m7 cần giám định, đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 19,3488g, loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine.
- Nhiều viên nén màu tím được ký hiệu mẫu m8 cần giám định, có tổng khối lượng 4,6891g, đều không tìm thấy ma tuý.
- Nhiều mảnh vụn viên nén được ký hiệu mẫu m9 cần giám định, có tổng khối lượng 2,0429g, đều không tìm thấy ma tuý.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói niêm phong số 12318 (2376/23) bên ngoài có chữ ký ghi tên Thiếu tá Nguyễn Thanh Đ (Giám định viên), Lương Minh T6 (Điều tra viên), là ma tuý còn lại sau giám định.
- 01 (một) đĩa sứ trắng dạng tròn; 01 (một) thẻ nhựa; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn; 01 (một) ống nhựa màu trắng, 01 (một) bật lửa. Là những dụng cụ của H, dùng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý.
- 01 bàn DJ, là của H, sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý.
- 01 Loa bluetooth hiệu Harman/kardon, là của H, sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý.
- 01 (một) đèn có chữ LASER SHOW SYSTEM, là của H, sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý.
- 01 (một) đèn laser Class 3B màu trắng, là của H, H sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý.
- 01 (một) Điện thoại di động hiệu Iphone, số Imel: 355597826566313 (đã qua sử dụng), là của H, dùng liên lạc mua ma tuý.
- 01 đĩa ghi âm, ghi hình lời khai của Mai Đức H. (Lưu kèm hồ sơ vụ án)
Tại bản cáo trạng số: 139/CT-VKSQ.TP ngày 23 tháng 05 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Mai Đức H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa:
Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm h khoản 3 Điều 249; điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Mai Đức H từ 10 năm đến 11 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Bị cáo Mai Đức H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 31/10/2023, Mai Đức H có hành vi tổ chức cho các đối tượng Dương Đăng K (sinh ngày 01/05/2006) là người dưới 18 tuổi, Huỳnh Minh L2, Phạm Quốc H1, Phạm Ngọc T3, Bùi Anh D, Phạm Thanh T4, Nguyễn Ngọc Phúc C (sinh ngày 29/08/2006) là người dưới 18 tuổi, sử dụng ma tuý tại P.3.4 nhà số D D, phường T, quận T, TP .. Đồng thời, qua khám xét, Mai Đức H còn có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng ma tuý là 13,1856g MDMA; 37,1718g Ketamine; 23,6353g Methamphetamine, MDMA, Ketamine.
Căn cứ Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015 thì tỷ lệ chất MDMA là: 13,1856g so với 30g = 43,9%. Tỷ lệ chất Ketamine và chất Methamphetamine, MDMA, Ketamine là 37,1718g + 23,6353g = 60,8071g so với 100g = 60,8%. Tổng tỷ lệ các chất ma tuý là: 43,9% + 60,8% = 104,7%. Nên Mai Đức H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma tuý tương đương quy định tại Khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. đã truy tố bị cáo Mai Đức H về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b (đối với 02 người trở lên), điểm c (đối với người đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến các chính sách, quy định của Nhà nước trong việc quản lý, cất giữ chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bà cố tên Võ Thị C1 được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu là bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo trong trường hợp phạm nhiều tội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là phù hợp.
[6] - Đối với Nguyễn Ngọc Phúc C, Bùi Anh D, Phạm Quốc H1, Hoàng Văn T2, Dương Đăng K, Huỳnh Minh L2, Phạm Ngọc T3, Phạm Thanh T4, Nguyễn Tài L1 là những người được Mai Đức H cung cấp ma túy để sử dụng. Kết quả điều tra, các đối tượng, được H rủ tới chơi sau đó H đưa ma tuý cho các đối tượng sử dụng; các đối tượng không có hùn tiền để trả tiền mua ma túy cho H, không bàn bạc, không giúp sức, không cung cấp công cụ, dụng cụ sử dụng ma túy với Mai Đức H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm Khoa, L2, H1, T3, D, T4, C dương tính với chất ma túy. Cơ quan điều tra giao các đối tượng Phạm Ngọc T3, Dương Dăng K1, Nguyễn Ngọc Phúc C, cho Công an Phường nơi các đối tượng cư trú để ra Quyết định xử lý hành chính. Đối với Huỳnh Minh L2, Phạm Quốc H1, Nguyễn Tài L1, Bùi Anh D, Toà án nhân dân quận Tân Phú đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp.
- Đối với đối tượng Lê Văn T5, người bán ma túy cho Mai Đức H, hiện chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử lý sau là có cơ sở.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) gói niêm phong số 12318 (2376/23) bên ngoài có chữ ký ghi tên Thiếu tá Nguyễn Thanh Đ (Giám định viên), Lương Minh T6 (Điều tra viên), là ma tuý còn lại sau giám định. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) đĩa sứ trắng dạng tròn; 01 (một) thẻ nhựa; 01 (một) ống nhựa màu trắng, 01 (một) bật lửa. Là những dụng cụ của H, dùng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn. H dùng vào việc sử dụng ma túy. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 bàn DJ, là của H, sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 Loa bluetooth hiệu Harman/kardon, là của H, sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) đèn có chữ LASER SHOW SYSTEM, là của H, sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) đèn laser Class 3B màu trắng, là của H, H sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imel: 355597826566313 (đã qua sử dụng), là của H, dùng liên lạc mua ma tuý. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 đĩa ghi âm, ghi hình lời khai của Mai Đức H. Lưu kèm hồ sơ vụ án.
[8] Án phí: Bị cáo Mai Đức H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: bị cáo Mai Đức H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[2] Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[2.1] Xử phạt: bị cáo Mai Đức H 10 (M) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3] Áp dụng: Điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3.1] Xử phạt: bị cáo Mai Đức H 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[4] Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Buộc bị cáo Mai Đức H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là: 17 (Mười bảy) năm 06 (S) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 31/10/2023.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 12318 (2376/23) bên ngoài có chữ ký ghi tên Thiếu tá Nguyễn Thanh Đ (Giám định viên), Lương Minh T6 (Điều tra viên), là ma tuý còn lại sau giám định. 01 (một) đĩa sứ trắng dạng tròn; 01 (một) thẻ nhựa; 01 (một) ống nhựa màu trắng, 01 (một) bật lửa. Là những dụng cụ của H, dùng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn; 01 bàn DJ; 01 Loa bluetooth hiệu harman/kardon; 01 (một) đèn có chữ LASER SHOW SYSTEM; 01 (một) đèn laser Class 3B màu trắng; 01 (một) Điện thoại di động hiệu Iphone, số Imel: 355597826566313 (đã qua sử dụng).
Vật chứng trên hiện đang nhập kho theo Lệnh nhập kho vật chứng vật chứng số: 89/LNK-CSKT ngày 06 tháng 4 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Buộc bị cáo Mai Đức H phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Mai Đức H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thành |
Bản án số 129/2024/HSST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 129/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
