|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 129/2024/HS-ST Ngày: 14-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lục Kim Thanh – Giáo viên hưu trí
2/ Bà Nguyễn Thị Thắm – Cán bộ hưu trí;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn R, sinh năm 2003 tại tỉnh Đồng Tháp; HKTT: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C, sinh năm 1977 và bà Đặng Thị B, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Cháu Huỳnh Thanh T, sinh ngày 15/12/2007; HKTT: Ấp T, thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1987; HKTT: Ấp T, thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (cha của bị hại). Yêu cầu xét xử vắng mặt.
+ Bà Lý Thị Ngọc P, sinh năm 1981; HKTT: Ấp T, thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (mẹ của bị hại). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Văn R và bị hại Huỳnh Thanh T có mối quan hệ tình cảm yêu đương nam nữ với nhau từ tháng 7/2022. Bị cáo sống cùng với gia đình tại phòng trọ số A nhà T thuộc khu phố A, phường H, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương, còn T ở cùng với em gái là Huỳnh Thái V (sinh năm 2012, nơi đăng ký thường trú: ấp T, thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang) tại phòng trọ số 32 nhà trọ Huỳnh Thị Kim T1 cùng thuộc khu phố A, cách chỗ ở của bị cáo ở khoảng 500 mét. T có cha ruột là ông Huỳnh Văn D và mẹ ruột là bà Lý Thị Ngọc P cùng ở phòng trọ số 31 cạnh phòng của T.
Trong thời gian yêu nhau, bị cáo và T đã 02 lần tự nguyện quan hệ tình dục với nhau, cụ thể như sau:
- - Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/11/2023, bị cáo đi bộ đến phòng trọ của T. Lúc này, V đã ngủ và bị cáo xin T cho bị cáo quan hệ tình dục thì T đồng ý. Cả hai quan hệ tình dục với nhau khoảng 05 phút thì bị cáo xuất tinh trong âm đạo của T. Sau đó, T và bị cáo đi vào nhà vệ sinh trong phòng tắm rửa rồi bị cáo đi về.
- - Lần thứ hai: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/11/2023, bị cáo nhắn tin cho T nói sẽ qua phòng trọ của T chơi thì T đồng ý. Sau đó, bị cáo đi bộ đến phòng trọ của T thì thấy V đã đi ngủ. Bị cáo vào nằm xuống nệm ôm T và xin T cho bị cáo quan hệ tình dục thì T đồng ý. Cả hai quan hệ tình dục với nhau được khoảng 05 phút thì bị cáo xuất tinh lên bụng của T. Sau đó, bị cáo và T đi vào nhà vệ sinh trong phòng trọ rửa bộ phận sinh dục, rồi cả hai ôm nhau nằm ngủ dưới nền nhà.
Đến khoảng 02 giờ ngày 06/11/2023, V thức giấc thấy T và bị cáo đang ôm nhau ngủ nên chạy qua phòng 31 nói cho ông D và bà P biết. Bà P đến Công an phường H, thanh phố B trình báo vụ việc. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu vàng nhạt thu giữ của bị cáo.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Theo Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 7049 ngày 08/11/2023 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C1, kết luận: Màng trinh của bị hại Huỳnh Thanh T tại thời điểm giám định vào ngày 07/11/2023 bị rách cũ vị trí 04 giờ và 07 giờ.
Ngày 07/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 385/QĐ-CQCSĐT-ĐTTH về độ tuổi của bị hại Huỳnh Thanh T. Theo Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 7048 ngày 08/11/2023 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C1, kết luận: Độ tuổi của bị hại Huỳnh Thanh T tại thời điểm giám định vào ngày 07/11/2023 là khoảng từ 15 năm 09 tháng đến 16 năm 03 tháng.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Thanh T, cha là ông Huỳnh văn D1, mẹ ruột cháu T yêu cầu bị cáo Trần Văn R bồi thường thiệt hại về nhân phẩm, danh dự, tổn thất tinh thần cho bị hại với số tiền là 20.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người đại diện cho bị hại, không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y về tình dục và kết luận giám định pháp y về độ tuổi nêu trên.
Tại Cáo trạng số 111/CT-VKSBC ngày 24/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn R về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn R từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị giao trả 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu vàng nhạt thu giữ cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại Huỳnh Thanh T số tiền 20.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn R khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 111/CT-VKSBC ngày 24/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố B, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai đại diện bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 02/11/2023 đến ngày 06/11/2023, tại phòng trọ số C nhà T thuộc khu phố A, phường H, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Văn R có hành vi quan hệ tình dục với cháu Huỳnh Thanh T (từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi) 02 lần. Khi quan hệ tình dục với bị cáo R, cháu T tự nguyện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 111/CT-VKSBC ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo R thực hiện là rất nghiêm trọng do có khung hình phạt đến10 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể, danh dự và nhân phẩm của trẻ em, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của trẻ em được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức và biết được rằng hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cũng như giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có trình độ học vấn thấp. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.
[7] Bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu vàng nhạt. Xét, đây là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[9] Trách nhiệm dân sự: Bị hại và đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền trên cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, căn cứ điều luật, xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo là nghiêm khắc. Xét, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có trình độ học vấn thấp được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, mức đề nghị về hình phạt đối với bị cáo là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[11] Án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[12] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 584, 586, 592 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn R phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn R 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu vàng nhạt (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
- Vể trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Văn R bồi thường cho bị hại Huỳnh Thanh T số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
- Về án phí:
- - Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn R phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn R phải chịu 1.000.000 (một triệu) đồng.
- Về quyền kháng cáo:
- - Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại (bà P) có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/6/2024).
- - Đại diện bị hại (ông D1) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VVăn Quang Bảo |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi)
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn R
