TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 129/2024/HS-ST Ngày 12-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Đông
Ông Nguyễn Văn Thông
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Lê Doãn Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/TLHS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Phan Gia H; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 28/6/2002, tại: thành phố T, tỉnh Quảng Nam; HKTT và chỗ ở: Khối phố G, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Họ tên cha: Lương Ngọc H1 (chết), họ tên mẹ: Phan Thị H2 (sinh năm 1956), cùng trú: Khối phố G, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam;
Bị cáo là con một trong gia đình, bị cáo có vợ là Lương Thị Kiều L (sinh năm 2003, trú: Khối phố G, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam); bị cáo có 01 người con sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Bị hại:
+ Bà Huỳnh Phúc H3, sinh năm: 1999, nơi ĐKHKTT: thôn A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở hiện nay: 5 T, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Vũ Khắc C, sinh năm: 1981, địa chỉ: G P, khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
+ Ông Vũ Khắc Nhật N, sinh năm: 1984, địa chỉ: G P, khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Chủ hộ kinh doanh cầm đồ 768. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại nhà trọ của chị Huỳnh Phúc H3 (sinh năm 1999, trú: thôn A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam) tại 5 T, khối phố M, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, Lương Phan Gia H mượn chiếc xe mô tô gắn biển số 92M1-312.35 của chị Huỳnh Phúc H3 để sử dụng đi lại. Khi mượn chiếc xe mô tô, H nói với chị H3 mượn xe để làm phương tiện đi về nhà của H và hẹn đến ngày 05/12/2023 sẽ trả chiếc xe lại cho chị H3. Tuy nhiên, đến ngày trả xe H không trả xe như đã hứa, H nói với chị H3 cho H mượn thêm ít bữa nữa sẽ trả. Đến ngày 06 tháng 12 năm 2023, H mang chiếc xe mượn của chị H3 đến cầm cố tại Cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ 768 (địa chỉ: G P, Khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) do ông Vũ Khắc Nhật N (sinh năm: 1984, trú: 768 P, Khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) làm chủ hộ và ông Vũ Khắc C (sinh năm 1981, trú: Số G P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) là người quản lý cơ sở, gặp anh Vũ Khắc C cầm cố được số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Số tiền trên H sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Chị H3 nhiều lần yêu cầu H trả xe nên H nói thật với chị H3 là H đã cầm cố xe của chị H3, chị H3 không đồng ý và yêu cầu H trong ba ngày sau phải chuộc xe về trả cho chị H3. Nhưng sau đó chị H3 nhiều lần điện thoại, nhắn tin đòi lại xe nhưng H không trả xe cho chị H3 và cắt liên lạc với chị H3. Ngày 16/01/2024, chị Huỳnh Thị H4 đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an thành phố T.
* Tang vật tạm giữ:
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô ghi biển số 92M1-31235, đứng tên Huỳnh Phúc H3;
- - 01 (một) chiếc xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ đen, gắn biển số 92M1-312.35.
- - 01 (một) thẻ căn cước công dân mang tên Lương Phan Gia H.
- - 01 (một) Hợp đồng cầm đồ lập ngày 06/12/2023 giữa cơ sở cầm đồ 768 và Lương Phan Gia H.
Tại Kết luận định giá số 11/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: đỏ đen, biển kiểm soát 92M1-312.35 có giá trị là: 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).
Cáo trạng số 119/CT-VKSTK-HS ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Lương Phan Gia H về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lương Phan Gia H từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian gian thử thách.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên toà, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố.
[2.2] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được: Vào ngày 04/12/2023, tại phòng trọ chị Huỳnh Phúc H3 51/23 T, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, Lương Phan Gia H sau khi được chị Huỳnh Phúc H3 cho mượn xe sử dụng đi lại, H đã dùng thủ đoạn gian dối mang xe chị H3 đi cầm cố, chiếm đoạt của chị H3 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển kiểm soát 92M1-312.35 có giá trị là: 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).
Đối chiếu lời khai của bị cáo; lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thấy phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo Lương Phan Gia H đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra thì thấy:
Tài sản hợp pháp của mọi công dân, tổ chức đều được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đối với tài sản của tổ chức, công dân đều phải được xử lý nghiêm minh. Bị cáo nhận thức được điều đó nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải lao động nên bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[2.4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò của bị cáo thì thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã trả lại cho anh Vũ Khắc C số tiền 9.000.000 đồng. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.5] Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 xử bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt truy tố khi quyết định hình phạt.
[2.6] Về loại hình phạt áp dụng: Hành vi của bị cáo là cố ý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đẻ răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.
[2.7] Về trách nhiệm dân sự: bị hại Huỳnh Phúc H3 không có yêu cầu gì thêm; anh Vũ Khắc C yêu cầu bị cáo Lương Gia H bồi thường số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Bị cáo Lương Phan Gia H trả lại cho anh Vũ Khắc C số tiền 9.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, gắn biển số 92M1- 312.35 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô ghi biển số 92M1-31235, đứng tên Huỳnh Phúc H3, qua điều tra xác định chiếc xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe trên là của chị Huỳnh Phúc H3 bị Lương Phan Gia H chiếm đoạt, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe trên cho chị H3 là phù hợp.
- - Đối với 01 (một) thẻ căn cước công dân mang tên Lương Phan Gia H, H sử dụng để cầm cố xe mô tô chiếm đoạt được. Nhưng do đây là giấy tờ tùy thân của Lương Phan Gia H không phải vật chứng của vụ án nên cần trả lại cho H.
- - Đối với 01 (một) Hợp đồng cầm đồ lập ngày 06/12/2023 giữa cơ sở cầm đồ 768 và Lương Phan Gia H cần lưu hồ sơ để đảm bảo giải quyết vụ án.
[2.9] Về vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Đối với anh Vũ Khắc C có hành vi nhận cầm cố 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển kiểm soát 92M1-312.35 mà H mang đến cầm cố nhưng anh C không biết xe mô tô H mang đến cầm cố là tài sản do H phạm tội mà có. Do đó, hành vi của anh C không cấu thành tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định Điều 323 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, việc anh C thực hiện cầm cố xe mô tô này từ H trong khi H không có giấy ủy quyền hợp lệ của chủ xe, hành vi của C đã vi phạm vào điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã chuyển cho Công an thành phố T để giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2.10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Lương Phan Gia H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lương Phan Gia H 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Trả lại cho Lương Phan Gia H: 01 (một) thẻ căn cước công dân mang tên Lương Phan Gia H.
- Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án: 01 (một) Hợp đồng cầm đồ lập ngày 06/12/2023 giữa cơ sở cầm đồ 768 và Lương Phan Gia H.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 16/8/2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lương Phan Gia H phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/9/2024). Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Quốc Thiện |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lương Phan Gia H - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
