|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 129/2024/HS-ST
Ngày: 11-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Công và bà Lê Thị Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng N, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn S, sinh năm 2002 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt phạm tội quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Phạm Hửu S1, sinh năm 1996 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu T và bà Dương Thị N1; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt phạm tội quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Yến N2, sinh năm 2000; nơi đăng ký thường trú: 326 ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: 41/1, tổ H khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Danh Thiện P, sinh năm 1994. Vắng mặt;
2. Ông Trương Vĩnh N3, sinh năm 1998. Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài và cần tiền trả nợ nên S nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Khoảng 18 giờ ngày 12/9/2023, Nguyễn Văn S điều khiển xe
mô tô không biển số đến phòng trọ của Phạm Hửu S1 rủ S1 nói là đi công chuyện; trên đường đi S rủ S1 tìm tài sản của ai sơ hở để chiếm đoạt thì được S1 đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến trước cổng Công ty M tại số I, Đại lộ Đ thuộc khu công nghiệp V - Singapore (VSIP), thành phố T thì phát hiện bà Nguyễn Thị Yến N2 đang ngồi trên xe mô tô dựng sát mép đường, trên tay cầm 01 điện thoại Iphone 13 Pro, 128Gb màu xanh. Thấy vậy, S nói “Có người cầm điện loại kìa, lấy không” S1 trả lời “Có”, S liền điều khiển xe mô tô áp sát người bà N2 để S1 ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại của bà N2 rồi S nhanh chóng tăng ga điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Khi cả hai đi đến chốt cổng khu công nghiệp VSIP thuộc đường số I thì bị lực lượng bảo vệ khu công nghiệp V phát hiện, bắt quả tang sau đó bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để xử lý theo quy định, đồng thời thu giữ các đồ vật gom:
- - 01 xe mô tô hiệu Suzuki, loại Satria, không biển số, số máy: CR04G245874, số khung: MH8D211A2MJ245840;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 13 pro 128Gb màu xanh có gắn sim: 0358.257.630;
- - 03 giấy cầm đồ; 01 đồng hồ hiệu Orient; 01 thẻ ATM mang tên Nguyen Van S2; 01 điện thoại hiệu Samsung màu vàng (bể mặt kính).
Tại Biên bản định giá tài sản và Bản kết luận định giá tài sản ngày 19/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro, dung lượng 128Gb màu xanh trị giá 16.800.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 135/CT-VKSTA ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S và Phạm Hửu S1 về tội cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn S mức hình phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Hửu S1 mức hình phạt từ 03 năm 03 tháng đến 04 năm 03 tháng tù; tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô SUZUKI hiệu Satria biển số 67C1-950.15, số máy: CR04G-245874, số khung: MH8D2-11A2MJ245840 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô xe gắn máy số 67000624 mang tên Nguyễn Văn S là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Bị cáo Nguyễn Văn S và Phạm Hửu S1 thừa nhận đã thực hiện hành vi đúng như Cáo trạng đã nêu. Tại phần nói lời sau cùng các bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là sai trái, tỏ thái độ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi và hậu quả: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất thừa nhận: Do cần tiền tiêu xài và trả nợ nên S rủ S1 đi chiếm đoạt tài sản của người khác. Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/9/2023, S điều khiển xe mô tô chở S1 đi trên đường Đ, khu công nghiệp V thì phát hiện bà Nguyễn Thị Yến N2 đang ngồi trên xe mô tô dựng sát mép đường, trên tay cầm 01 điện thoại Iphone 13 Pro, 128Gb màu xanh. Sil liền áp sát để S1 ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại của bà N2 rồi S nhanh chóng tăng ga điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Khi cả hai điều khiển xe mô tô đến chốt cổng khu công nghiệp VSIP thuộc đường số I thì bị lực lượng bảo vệ khu công nghiệp V phát hiện, bắt quả tang. Tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro, 128Gb màu xanh có giá 16.800.000 đồng.
[3] Về lỗi của các bị cáo: Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, các bị cáo nhận thức được việc làm đó là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng vẫn chiếm đoạt tài sản của bị hại để có tiền tiêu xài, do đó lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
[4] Từ những nhận xét nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo như nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không gây oan sai cho các bị cáo.
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam, tư lợi mong muốn nhanh chóng có tiền để tiêu xài nên đã rủ nhau cố ý cùng phạm tội. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, lo sợ cho nhân dân. Các bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện để thực hiện tội phạm, đây là thủ đoạn nguy hiểm, có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại hoặc của người khác lưu thông trên đường. Do đó, việc xét xử các bị cáo là cần thiết để trừng trị, răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Các bị cáo thực hiện tội phạm dưới hình thức đồng phạm nhưng chỉ là giản đơn, không thuộc tội phạm có tổ chức; trong đó bị cáo S có vai trò cầm đầu, rủ rê, điều khiển xe chở bị cáo S1 đi tìm tài sản và tẩu thoát; bị cáo S1 có vai trò là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi giật tài sản của bị hại. Do đó, vai trò của bị cáo S là cao hơn bị cáo S1.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Hửu S1 có ông ngoại được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất do có thành tích trong Kháng chiến chống Mỹ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[9] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị xử phạt các bị cáo mức hình phạt như nêu trên là phù hợp pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo.
[10] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro, 128Gb màu xanh là tài sản của bị hại Nguyễn Thị Yến N2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản nêu trên cho bị hại là có căn cứ, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Đối với 03 giấy cầm đồ; 01 đồng hồ hiệu Orient; 01 thẻ ATM mang tên Nguyen Van S2; 01 điện thoại hiệu Samsung màu vàng (bể mặt kính) là những tài sản của bị cáo S2 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bị cáo S2 là đúng quy định.
Đối với 01 xe mô tô SUZUKI hiệu Satria biển số 67C1-950.15, số máy: CR04G-245874, số khung: MH8D2-11A2MJ245840 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô xe gắn máy số 67000624 mang tên Nguyễn Văn S. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S xác định chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của bị cáo, bị cáo sử dụng xe làm phương tiện để thực hiện tội phạm nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
[11] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 47; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn S;
- - Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Hửu S1;
- - Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S và Phạm Hửu S1 phạm tội cướp giật tài sản.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 04 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2023.
Xử phạt bị cáo Phạm Hửu S1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2023.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô 02 bánh nhãn hiệu SUZUKI – SATRIA, thể tích 147,3cm³, số khung MH8DL11AZNJ245840, số máy CGA1-ID245874 kèm theo biển kiểm soát 67C1-950.15 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô xe gắn máy số 67000624 mang tên Nguyễn Văn S (Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/02/2024 và ngày 20/5/2024).
3. Về án phí: Mỗi bị cáo Nguyễn Văn S và Phạm Hửu S1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Trọng Q |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S và đồng phạm cướp giật tài sản
