|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 129/2024/HS-PT Ngày: 11-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng.
Ông Trần Phước Hội.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 tháng 4; 08 tháng 5; 03 tháng 6 và 11 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLPT- HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thanh S, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo kháng cáo:
Lê Thanh S, sinh năm 1982 tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N, sinh năm 1956 (chết) và con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1956 (còn sống); bị cáo có vợ (ly hôn) và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 15/7/2004 bị Công an xã P, huyện T, tỉnh An Giang xử phạt 200.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 28/7/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 29/8/2006, đã được xóa án tích; Ngày 09/01/2014 bị Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 20.000.000 đồng về hành vi kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, đã chấp hành nộp phạt xong ngày 17/01/2014; Ngày 18/12/2015 bị khởi tố về tội “Buôn bán hàng cấm”, ngày 17/5/2016 Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định đình chỉ vụ án đối với Lê Thanh S về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại Điều 181 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án).
Tạm giữ: Không; tạm giam: không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện theo pháp luật của bị hại không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Thanh S có giấy phép lái xe hạng C và làm nghề tài xế lái xe ô tô tải chở hàng thuê cho anh Lê Thanh T. Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 07/8/2023, S một mình điều khiển xe ô tô tải biển số 67H- 015.48 của anh T chở hàng trên tuyến đường V theo hướng từ huyện T, tỉnh Long An để đi đến huyện P, tỉnh An Giang. Khi đến đoạn đường thuộc ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, S quan sát thấy phía trước cùng chiều có xe mô tô biển số 66M1-275.31 do ông Nguyễn Văn Ú điều khiển. Khi còn cách xe ông Ú khoảng 05m, S mở tín hiệu đèn bên trái báo hiệu xin vượt, đồng thời đánh lái lấn sang phần đường bên trái để vượt xe mô tô của ông Ú. Trong lúc đang vượt, S quan sát thấy phía trước có một xe ô tô (không rõ loại xe và biển số) đang di chuyển bên phần đường bên trái theo hướng ngược lại, cách xe của S khoảng hơn 20m. Để tránh va chạm với xe ô tô này, S đánh lái điều khiển xe về phần đường bên phải theo hướng đi của mình thì phần cản bảo vệ và cung chắn bùn của bánh sau bên phải xe tải do S điều khiển va chạm vào phần tay lái bên trái xe do ông Ú điều khiển làm cho ông Ú cùng xe mô tô ngã xuống đường, bánh sau bên phải của xe ô tô tải cán qua người của ông Ú. Hậu quả là ông Ú tử vong tại hiện trường, xe mô tô biển số 66M1-275.31, xe ô tô tải biển số 67H- 015.48 bị hư hỏng.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 07/8/2023 xác định: Hiện trường là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường rộng 6m, trải bê tông nhựa bằng phẳng, có vạch kẻ tim đường màu vàng đứt quãng chia đoạn đường thành 02 làn đường. Chọn mép đường bên phải theo hướng từ huyện T, tỉnh Long An đi xã H, huyện T làm mép đường chuẩn; Trụ km 477TN/16 nằm bên phải làm mốc cố định. Xác định tâm vùng va chạm cách mép lề chuẩn 0,8m và cách tâm trục bánh sau xe mô tô 66M1-275.31 là 03m.
Kết luận giám định tử thi số 869/KLGĐTT-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận tử thi Nguyễn Văn Ú: Đa chấn thương nặng nhiều vùng trên cơ thể; vỡ toàn bộ khung chậu, gãy hở đầu trên xương đùi phải. Trong đó bị đa chấn thương nặng dẫn đến sốc chấn thương là nguyên nhân tử vong.
Tại Kết luận giám định số 933/KL-KTHS ngày 29/8/2023 và 884/KL-KL-KTHS ngày 17/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu máu thu của Lê Thanh S không phát hiện thành phần cồn Ethanol; mẫu máu thu của ông Nguyễn Văn Ú có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 12,6mg/100ml máu.
Như vậy, nguyên nhân trực tiếp xảy ra tai nạn là do bị cáo Lê Thanh S điều khiển xe ô tô tải biển số 67H- 015.48 vượt không đảm bảo an toàn, vi phạm vào khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết 01 người.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe ô tô tải biển số 67H- 015.48 và 01 xe mô tô biển số 66M1- 275.31 (do ông Nguyễn Văn Ú mượn của anh Phan Phạm Thiên Â). Xét không cần thiết tạm giữ, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chủ sở hữu các tài sản trên.
Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 19/8/2023, bị cáo S và người đại diện theo pháp luật của bị hại là anh Nguyễn Văn Hoàng P (con ông Ú) đã thoả thuận bồi thường số tiền 130.000.000 đồng. Anh P đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Anh Phan Phạm Thiên  không yêu cầu bồi thường xe mô tô biển số 66M1-275.31 bị hư hỏng nên không xem xét giải quyết.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19 tháng 01 năm 2024 bị cáo Lê Thanh S có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thanh S thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản án sơ thẩm miêu tả. Bị cáo thừa nhận Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan, sai. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức hình phạt 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là nặng, nên bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo, vì trong vụ án này bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường xong cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính phải chăm sóc mẹ già, con nhỏ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm nhận định: Hành vi của bị cáo Lê Thanh S bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và quyết định mức hình phạt 01 năm tù là phù hợp; Toà án cấp sơ thẩm không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo là đã có chiếu cố hoàn cảnh bị cáo. Nay bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, có nêu lý do đã thành khẩn khai báo, bồi thường cho bị hại xong, đại diện bị hại bãi nại, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo phải chăm sóc mẹ già, nuôi con nhỏ. Tuy nhiên, các tình tiết trên đã được Toà án cấp sơ thẩm áp dụng, không phát sinh tình tiết mới, các lý do hoàn cảnh khó khăn không có cơ sở để xem xét. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh S, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Tại phần tranh luận, bị cáo Lê Thanh S không tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo hoặc cho bị cáo được giảm hình phạt, để bị cáo có điều kiện tại ngoại chăm lo cho gia đình của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Bị cáo Lê Thanh S điều khiển xe ô tô tải biển số 67H- 015.48 tham gia giao thông vượt không đảm bảo an toàn- vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, dẫn đến xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 66M1-275.31 do bị hại Nguyễn Văn Ú đang điều khiển cùng chiều phía trước theo hướng di chuyển của xe do bị cáo S điều khiển, hậu quả làm ông Ú tử vong tại hiện trường. Vụ án xảy ra vào ngày 07/8/2023 trên tuyến đường V đoạn thuộc ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hành vi của bị cáo S đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ pháp luật.
[2] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm có căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ do bị cáo “tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; đại diện của bị hại có đơn xin cho bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo S mức án 01 năm tù, đây là mức hình phạt tù thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo vi phạm. Vì vậy, mức án 01 năm tù đã áp dụng đối với bị cáo S là phù hợp pháp luật.
[3] Bị cáo Lê Thanh S kháng cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tại Tòa án cấp phúc thẩm không phát sinh các tình tiết giảm nhẹ mới so với các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo có nêu ra lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin án treo để tại ngoại chăm sóc mẹ già, con nhỏ; Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nhưng thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng và hiện nay tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng là rất đáng báo động, nên mọi hành vi vi phạm cần phải được xử lý nghiêm minh mới bảo đảm ổn định trật tự an toàn giao thông, góp phần răn đe và phòng ngừa chung.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo, giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thanh S, nên giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[4] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Lê Thanh S không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo, giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thanh S.
Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Thanh S.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 129/2024/HS-PT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 129/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh S
