Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ Đ

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:129/2024/HSST

Ngày 07/06/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Cao Thị Đại
    2. Ông Lò Văn Hoan
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ
- Đại diện VKSND thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 07/6/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 145/2024/HSST ngày 17/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:131/2024/QĐXX-HS ngày 24/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn A. Tên gọi khác: Không
Sinh năm 1993. Tại tỉnh Đ
Nơi ĐKHKTT: Bản N, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Lò Văn V; Con bà: Lò Thị L; Gia đình bị cáo có 8 anh chị em, bị cáo là con thứ 8 trong gia đình.
Bị cáo có vợ Lò Thị N (đã ly hôn năm 2019); Tiền sự: Không. Tiền án: Không;
Nhân thân: Ngày 31/8/2009 bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản phạt tiền. Lò Văn A đã chấp hành xong hình phạt trên.
Bị cáo bị bắt tạm giữ trong vụ án này ngày 21/02/2024 bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 21/02/2024, A đi bộ đi bộ từ nhà đến bản L, xã M, thành phố Đ để tìm mua ma túy sử dụng thì gặp hỏi và mua được của một người phụ nữ không biết tên, tuổi địa chỉ được 01 gói nhỏ Heroine với giá 100.000đ. Hồi 10 giờ cùng ngày, sau khi mua được ma túy, Anh cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ lên rừng thuộc bản L, xã M tìm chỗ sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã M làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 21/02/2024 đã xác định: 01 cục chất bột thể rắn màu trắng đục nghi Heroine thu giữ khi bắt quả tang của Lò Văn A có khối lượng là 0,2 gam (ký hiệu M) gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 429/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

Vật chứng có ký hiệu, khối lượng 0,2 gam là chất ma túy: Loại (Heroine)
Hoàn lại đối tượng giám định 0,16 gam.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKSTPĐBP ngày 16/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Lò Văn A về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo A về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249/ BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/BLHS

Xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,16 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu hồng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND thành phố Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hồi 10 giờ ngày 21/02/2024 tại khu vực bản L, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn A đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,2 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy có được là do mua của một người phụ nữ không biết tên tại khu vực bản L, xã M với giá 100.000₫ sau khi mua được ma túy A cầm gói ma túy tìm chỗ để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng thu giữ của bị cáo đã được cân xác định khối lượng là 0,2 gam Heroine.

Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Từ những chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ 0,2 gam Heroine trên người mục đích để sử dụng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS.

Cáo trạng của VKSND thành phố Đ đã truy tố bị cáo là đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trớc pháp luật về hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

[2]. Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thì hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng làm ảnh huởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nớc về chất ma tuý. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song vì nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp và cố tình vi phạm. Nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

[3]. Xét về nhân thân HĐXX thấy rằng: Ngày 31/8/2009 bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "trộm cắp tài sản" phạt tiền. Lò Văn A đã chấp hành xong hình phạt trên, được xóa tiền sự nên được tính không có tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo chưa có tiền án, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo có mẹ đẻ là bà Lò Thị L được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tiếp tục cai nghiện cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của VKS là phù hợp HĐXX chấp nhận.

[4]. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét kinh tế bị cáo khó khăn, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nên không có điều kiện để thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người phụ nữ bị cáo gặp tại bản L, xã M, đã bán ma túy cho bị cáo, do không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.

[5]. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

[6]. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.

Tịch thu tiêu huỷ 0,16 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu hồng.

[7].Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/ BLHS; Điều 331, Điều 333/BLTTHS

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Xử phạt bị cáo Lò Văn A 01( một) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 21/02/2024)
  3. Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

    Tịch thu tiêu huỷ 0,16 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu hồng.

    (Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ vào ngày 17/5/2024 đặc điểm vật chứng mô tả theo biên bản giao nhận).

  4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/6/2024)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh ĐB
  • - VKSND TPÐ;
  • - Cơ quan CSĐTA TP Đ;
  • - Bộ phận HNV- CATP Đ;
  • - Sở TP tỉnh Điện Biên;
  • - CCTHADS TP Đ;
  • - HSTHA hình sự:
  • - Bị cáo;
  • - Lưu./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bạc Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HSST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 129/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo A 15 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger