Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 129/2024/DS-ST

Ngày: 07/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn
  2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thúy An – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 540/2023/TLST- DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST- DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2024/QÐST- DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1971; trú tại: Số D, đường T, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1967; trú tại: Số A, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Trần Thị Kim P trình bày:

Bà Trần Thị Kim P và bà Nguyễn Thị Thùy T là chỗ bạn bè quen biết. Bà T nhiều lần vay tiền của bà P. Theo thỏa thuận thời hạn vay 1 tháng, khi đến hạn

bà T có nhu cầu tiếp tục vay thì thời hạn tiếp tục cho đến khi bà T trả tiền gốc. Cụ thể các lần vay như sau:

Ngày 04/01/2021 và T vay của bà P 100.000.000đ.

Ngày 19/01/2021 và T vay của bà P 80.000.000đ.

Ngày 23/01/2021 và T vay của bà P 20.000.000đ.

Ngày 23/01/2021 và T vay của bà P 100.000.000đ.

Ngày 03/5/2021 và T vay của bà P 20.000.000đ.

Ngày 03/6/2021 và T vay của bà P 20.000.000đ.

Ngày 23/6/2021 và T vay của bà P 50.000.000đ.

Ngày 20/11/2022 và T vay của bà P 10.000.000đ.

Trước đó, ngày 04/9/2020 bà T thế chấp cho bà P một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Lê Thị T1 (mẹ bà T) để vay số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), thời hạn hẹn trả là 01 tháng, lãi xuất 4%/tháng.

Ngày 09/5/2022, giữa bà Trần Thị Kim P và bà Nguyễn Thị Thùy T có viết giấy mượn lại sổ đỏ đang thế chấp. Theo nội dung giấy này bà T và bà P thống nhất tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi là 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng), trong đó 700.000.000đ tiền nợ gốc và 100.000.000đ tiền lãi. Đã nhiều lần bà P yêu cầu bà T trả nợ nhưng bà T trốn tránh. Nay bà P khởi kiện yêu cầu bà T phải có nghĩa vụ trả số nợ gốc là 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng) và tiền lãi của số tiền 700.000.000đ tính từ ngày 09/5/2022 đến ngày xét xử 07/5/2024 tạm tính là 700.000.000đ x 0,833%/tháng x 24 tháng = 139.944.000đ.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh yêu cầu khởi kiện: Giấy vay tiền, Giấy mượn lại sổ đỏ đang thế chấp, Biên nhận cầm đồ.

Bà Trần Thị Kim P có đơn xin xét xử vắng mặt.

Quá trình tố tụng bà Nguyễn Thị Thùy T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn không chấp hành quy định pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ vụ án, thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

2

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Trần Thị Kim P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thùy T trả số tiền vay theo các giấy vay tiền, vì vậy quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thời điểm khởi kiện bà T trú tại khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tới tham dự phiên tòa; nguyên đơn bà Trần Thị Kim P có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Nguyên đơn bà Trần Thị Kim P khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T trả số nợ vay 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng). Xét thấy, tại giấy mượn lại sổ đỏ đang thế chấp ngày 09/5/2022 bà T và bà P thống nhất và ký tên xác nhận số tiền vay, tiền cầm sổ kèm lãi là 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng), trong đó 700.000.000đ là tiền vay và tiền cầm sổ đỏ, 100.000.000đ là tiền lãi. Ngày 24/10/2023,bà P đã thông báo thời gian thanh toán nợ nhưng bà T không thực hiện, như vậy đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự.

[2.2] Bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà án và cũng không có ý kiến phản hồi, xem như bà T đã từ bỏ quyền chứng minh đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim P. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà P là có căn cứ chấp nhận.

[2.3] Về lãi suất: Bà P yêu cầu bà T thanh toán tiền lãi của số tiền vay 700.000.000đ tính từ ngày 09/5/2022 đến ngày xét xử 07/5/2024 tạm tính là 700.000.000đ x 0,833%/tháng x 24 tháng = 139.944.000đ. Xét, số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Kim P buộc bà Nguyễn Thị Thùy T trả số tiền nợ gốc 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng) và tiền lãi 139.944.000đ (một trăm ba mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi bốn nghìn đồng). Tổng cộng buộc bà T phải trả cho bà P 939.944.000đ (chín trăm ba mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

3

[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả nợ theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 463, Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Kim P đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc bà Nguyễn Thị Thùy T phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Kim P số tiền 939.944.000đ (chín trăm ba mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng) và tiền lãi 139.944.000đ (một trăm ba mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu 40.198.320đ (bốn mươi triệu, một trăm chín mươi tám nghìn, ba trăm hai mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị Kim P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho bà P số tiền 19.399.000đ tạm ứng án phí theo biên lai số 0001215 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành

4

án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Anh Thư

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 129/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị đơn phải niêm yết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger