|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 129/2024/HS-PT Ngày: 05-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
Các Thẩm phán:
- Ông Trần Minh Hải;
- Ông Đào Chí Keo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 198/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Trịnh Ngọc T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 206/2024/QĐXXPT-HS ngày 19/8/2024:
Bị cáo kháng cáo:
Trịnh Ngọc T, sinh ngày 09/02/1981; nơi thường trú: Ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Ngọc H (đã chết) và bà Đặng Thị Kim L, sinh năm 1942; vợ tên Lê Thị T1, sinh năm 1981; con có 02 người, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/12/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
(Ngoài ra trong vụ án này bị cáo Nguyễn Hồng T2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 20/12/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, lực lượng phối hợp Công an thị xã T và Công an xã T đến kiểm tra quán giải khát của Lê Thị M thuộc khu vực ấp T, xã T, thị xã T phát hiện, bắt quả tang Trịnh Ngọc T, Nguyễn Hồng T2 đang nhận cược đá gà trực tuyến thắng thua bằng tiền. Trần Phước H1, Hồ Văn H2, Trần Hùng X, Nguyễn Văn T3 đang đánh bài binh xập xám thắng thua bằng tiền. Thu giữ 02 điện thoại di động các nhãn hiệu Samsung M51, Vivo Y15s, 01 bộ bài tây 52 lá, tiền Việt Nam 1.730.000 đồng.
Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 13 giờ cùng ngày, tại quán nước của bà M, T rủ Hà Quang V hùn tiền nhận cược đá gà trực tuyến với người thanh niên tên T4, sử dụng tài khoản Zalo “Lê T4” (không rõ lai lịch), V đồng ý. Do T không biết đọc, biết viết nên giao điện thoại di động nhãn hiệu Samsung M51 cho V đăng nhập vào tài khoản trên trang “alo789vn.com” để theo dõi các trận gà đang đá trực tuyến và đăng nhập vào tài khoản Zalo “A Tủn” nhận tin nhắn cá cược đá gà trực tuyến của T4 02 trận, mỗi trận cược số tiền 1.000.000 đồng, tổng cộng 2.000.000 đồng (thắng cược 1.800.000 đồng, thua cược 1.350.000 đồng), V nghỉ, không tiếp tục hùn tiền với T. Ngay sau đó, Nguyễn Hồng T2 rủ T hùn tiền, tiếp tục cá cược đá gà trực tuyến với T4, T đồng ý; T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y15S của T2, đăng nhập vào tài khoản trên trang “alo789vn.com” để theo dõi các trận gà đang đá trực tuyến và sử dụng điện thoại của T đăng nhập tài khoản Zalo “A Tủn” để tiếp tục nhận cá cược với T4 03 trận gà, mỗi trận cược từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng, tổng cộng 5.000.000 đồng (thắng cược 1.500.000 đồng, thua cược 3.050.000 đồng), Công an đến kiểm tra, bắt quả tang.
Riêng đối với H1, H2, X, T3 đang đánh bài binh xập xám thắng thua bằng tiền, mỗi chi 5.000 đồng, người nào có chi Á được thắng 10.000 đồng, khi đang chơi được khoảng 07 ván bài (mỗi ván thắng thua dao động từ 15.000 đồng – 20.000 đồng) thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số: 38/KL-KTHS ngày 18 tháng 02 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh A kèm theo phụ lục gồm 20 trang A4 được trích xuất dữ liệu từ 02 điện thoại di động (01 điện thoại di động hiệu Samsung M51 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y15s). (Bút lục số 117 – 138).
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung M51, đã qua sử dụng (thu giữ của Trịnh Ngọc T);
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y15s, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Hồng T2);
- Tiền Việt Nam 6.730.000 đồng (Tửng 1.210.000 đồng, H1 120.000 đồng, T3 200.000 đồng, H2 100.000 đồng, X 100.000 đồng; Tửng nộp 4.000.000 đồng, T2 nộp 1.000.000 đồng).
- 02 bộ đồ bài Tây đã qua sử dụng.
Lời khai các bị cáo, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. (Bút lục 206 - 255).
Cáo trạng số 21/CT-VKSTC ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố các bị cáo Trịnh Ngọc T và Nguyễn Hồng T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Trịnh Ngọc T và Nguyễn Hồng T2 phạm tội “Đánh bạc”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc T 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án; khấu trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 09 ngày (từ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023).
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T2 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/7/2024 bị cáo Trịnh Ngọc T kháng cáo nội dung xin được phạt tiền hoặc được hưởng treo án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trịnh Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử. Bị cáo xin được phạt tiền hoặc được hưởng treo án treo vì cho rằng hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vợ không nghề nghiệp, bị cáo là lao động chính, phải lo cho mẹ già và các con còn đang đi học.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Trịnh Ngọc T có nội dung yêu cầu rõ ràng, gửi trong hạn luật định, nên đủ cơ sở chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- - Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trịnh
Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tuyên phạt bị cáo hình phạt 06 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; là lao động chính trong gia đình; có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt có điều kiện dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trịnh Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo hình phạt 06 tháng tù là có căn cứ; thống nhất đề nghị của Kiểm sát viên về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử có xét đến hoàn cảnh của bị cáo đang nuôi thêm 02 con của em gái là Trịnh Ngọc C (đã chết trong đại dịch Covid-19) có xác nhận của chính quyền địa phương. Đồng thời, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt nên đề nghị không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục, giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Trịnh Ngọc T nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Trịnh Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai bị cáo Nguyễn Hồng T2, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Trịnh Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trịnh Ngọc T thì thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự khác, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo với một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tuyên phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp, thỏa đáng, đúng pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vợ của bị cáo không nghề nghiệp ổn định, bị cáo là lao động chính trong gia đình; đồng thời bị cáo còn đang nuôi dạy 02 con của em gái (đã chết trong đại dịch Covid-19) có xác nhận của chính quyền địa phương. Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Như vậy, yêu cầu kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trịnh Ngọc T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 01/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017: Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 01 (một) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05/9/2024).
Giao bị cáo Trịnh Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Trịnh Ngọc T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, thị xã T, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Trịnh Ngọc T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trịnh Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |
Bản án số 129/2024/HS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về đánh bạc
- Số bản án: 129/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Ngọc T
