TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 129/2024/HS-ST Ngày 04 - 7 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đình Hùng
Ông Nguyễn Văn Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến, bà Hoàng Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 95/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Thông báo về thay đổi thời gian mở phiên tòa số 28/TB-TA ngày 12 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Hồng T, sinh năm 1990, tại Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: Thôn Phúc N, xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hồng V (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Đoàn Thu Th; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 58/2019/HS-ST ngày 22/5/2019, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng hợp thành 39 tháng tù (đã xóa án tích). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 15 tháng 12 năm 2023 đến ngày 21 tháng 12 năm 2023 chuyển tạm giam. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Văn N, sinh năm 1982; nơi cư trú: Xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. vắng mặt.
Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Văn C; vắng mặt.
- + Anh Hoàng Phú Tr; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy nên Phạm Hồng T nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 11 giờ ngày 15/12/2023, T điều khiển xe moto sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người nữ giới không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 2.000.000 đồng. Mua được ma túy, T mang về phòng trọ chia nhỏ được 09 túi. Khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, T nhận được điện thoại của Đào Văn N hỏi mua một túi ma túy đá với giá 500.000 đồng. T đồng ý và hẹn N đến khu vực đường liên xã thuộc thôn Phúc, xã Lưu Kiếm để giao dịch. Sau đó, T điều khiển xe moto BKS 14Y1-162.40 mang theo một túi ma túy đá đến điểm hẹn, số còn lại T để ở đệm trong phòng trọ. Tại đây, T gặp N đi cùng Cảng, N đưa cho T số tiền 500.000 đồng (trong đó, Cảng góp 200.000 đồng, N góp 300.000 đồng), T nhận tiền rồi đưa lại cho Cảng một túi ma túy đá. Khi T, Cảng, N vừa giao dịch mua bán ma túy xong thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Thu tại lòng bàn tay phải Cảng 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; thu của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; thu của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, số tiền 500.000 đồng và xe moto BKS 14Y1-162.40.
Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Phạm Hồng T tại thôn Phúc N, xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Thủy Nguyên thu giữ: Tại mặt đệm trên gác lửng phòng trọ 01 túi nilon màu đen kích thước 05x07 cm bên trong có 08 túi nilon (03 túi màu tím, 05 túi màu trắng) đều chứa tinh thể màu trắng. Tại gốc cây chuối cách cửa phòng trọ của T 01 mét có 01 túi nilon màu đen, bên trong có 20 vỏ túi nilon màu tím, 01 túi nilon màu trắng và 01 cân điện tử.
Ngoài lần bị bắt quả tang nêu trên, Phạm Hồng T khai nhận trước đó cũng đã bán ma túy nhiều lần, giao dịch qua điện thoại, địa điểm bán ở khu vực xã Lưu Kiếm, nhưng chỉ nhớ 02 lần:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 12/12/2023, tại quốc lộ 10 thuộc thôn Phúc, xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, T bán cho Nguyễn Văn Cảng và Đào Văn N 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng (Cảng góp 200.000 đồng, N góp 300.000 đồng).
Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 14/12/2023, tại khu vực trước cổng sân Golf xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, T bán cho Cảng và Hoàng Phú Trường 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng (mỗi người góp 250.000 đồng rồi chia nhau sử dụng riêng).
Tại Kết luận giám định số 1036/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Nguyễn Văn Cảng có khối lượng 0,04 gam, loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng trong 08 túi nilon thu tại phòng trọ của T có khối lượng 1,26 gam, loại Methamphetamine.
Các đối tượng Nguyễn Văn Cảng, Đào Văn N, Hoàng Phú Trường đều khai nhận cùng nhau góp tiền mua ma túy của Phạm Hồng T. Sau khi mua được ma túy, các đối tượng chia nhau để tự sử dụng.
Vật chứng vụ án: 01 phong bì được niêm phong số 1036MT/PC09 (trong chứa 1,03 gam Methamphetamine và vỏ bao bì còn lại sau giám định); 01 túi nilon màu đen bên trong có 20 vỏ túi nilon màu tím và 01 túi nilon màu trăng) và 01 cân điện tử. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím và số tiền 500.000 đồng đã chuyển chi cục Thi hành án huyện Thuỷ Nguyên.
Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14Y1-162.40 thu giữ của T, trong quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Đoàn Thu Thuỷ, chị Thuỷ cho T mượn xe để sử dụng, không biết T sử dụng chiếc xe đi mua bán ma tuý nên cơ quan công an đã trả chiếc xe trên cho chị Thuỷ.
Lời khai của bị cáo Phạm Hồng T phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 114/CT-VKSTN ngày 10 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Phạm Hồng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng T mức án từ 09 đến 10 năm tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 15/12/2023. Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong số 1036MT/PC09 (trong chứa 1,03 gam Methamphetamine và vỏ bao bì còn lại sau giám định); 01 túi nilon màu đen bên trong có 20 vỏ túi nilon màu tím và 01 túi nilon màu trắng) và 01 cân điện tử. Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím và số tiền 500.000 đồng. Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc bị cáo Phạm Hồng T bán ma túy vào các ngày 12/12/2023, 14/12/2023. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện, tỏ ra ăn năn, hối cải và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, của người được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh, định khung hình phạt: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 15/12/2023 tại khu vực đường liên xã thuộc thôn Phúc, xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, bị cáo Phạm Hồng T đã có hành vi bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, cho Nguyễn Văn Cảng và Đào Văn N. Ngoài ra, trước đó vào các ngày 12/12/2023 và 14/12/2023, bị cáo Phạm Hồng T đã có hành vi bán ma túy, loại Methamphetamine cho Nguyễn Văn Cảng, Hoàng Phú Trường và Đào Văn N. Hành vi của Phạm Hồng T đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, với tình tiết định khung hình phạt tại điểm b (phạm tội 02 lần trở lên), điểm c (đối với 02 người trở lên) khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tính chất quản lý độc quyền của Nhà nước. Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Phạm Hồng T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo T trước đó đã bị Tòa án nhân dân thành phô Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy, nay bị cáo lại tiếp tục vi phạm pháp luật cùng hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cho thấy bị cáo T có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật thấp. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hồng T đã thành khẩn khai báo nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo T tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt: Với phân tích trên, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong số 1036MT/PC09 (chứa 1,03 gam) và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 túi nilon màu đen bên trong có 20 vỏ túi nilon màu tím kích thước 2x3 cm, 01 túi nilon màu trắng kích thước 1,2 x 2,5 cm và 01 cân điện tử đã qua sử dụng. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen gắn sim số 0562.811.268 đã qua sử dụng thu giữ của Đào Văn N; 01 điện thoại di động Iphone màu tím gắn sim số 0961.592.529 đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Hồng T; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng của T có được do bán ma tuý ngày 15-12-2023. Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc Phạm Hồng T có được do bán bán ma túy vào các ngày 12/12/2023; 14/12/2023.
[7] Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phạm Hồng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt Phạm Hồng T 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày tạm giữ ngày 15 tháng 12 năm 2023.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong số 1036MT/PC09 chứa chất ma tuý (1,03 gam) và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 túi nilon màu đen bên trong có 20 vỏ túi nilon màu tím kích thước 2x3 cm, 01 túi nilon màu trắng kích thước 1,2 x 2,5 cm; 01 cân điện tử đã qua sử dụng. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Nokia màu đen gắn sim số 0562.811.268 đã qua sử dụng thu giữ của Đào Văn N; 01 điện thoại di động Iphone màu tím gắn sim số 0961.592.529 đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Hồng T (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng). Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 500.000 đồng (theo biên lai thu tiền số 0007980 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên). Buộc Phạm Hồng T phải nộp số tiền 1.000.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 9 năm tù giam
