|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 129/2024/HS-ST Ngày: 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Nhàn; ông Nguyễn Ngôi Sao.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thế P, sinh năm 1981; nơi sinh: Phú Yên; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, Khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở trước khi bị bắt: Phòng trọ số A đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phan Tùng C, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1955; nơi đăng ký thường trú: phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có vợ tên Trần Thị H, sinh năm 1982 (đã ly hôn); bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 06/6/2024 cho đến nay (Có mặt)
Bị hại:
- Anh Nguyễn Đăng K, sinh năm 1987; trú tại: Số D đường Q, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Ông Hoàng Đức P1, sinh năm 1968; trú tại: Số D đường B, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- Ông Trần Bình H1, sinh năm 1962; trú tại: Số H đường P, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- Anh Nguyễn Đức Thanh T, sinh năm 1995; trú tại: Số A đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Ông Trần Bá T1, sinh năm 1960; trú tại: Số A đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1965; trú tại: Số E đường Đ, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1976; trú tại: Số E đường Đ, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Bà Vũ Thị Hồng L1, sinh năm 1979; trú tại: Số E đường Đ, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Ông Trịnh Khắc T2, sinh năm 1959; trú tại: Số B đường Y, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1955; trú tại: Số A đường Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Anh Hoàng L2, sinh năm 1985; trú tại: Số F đường L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Bà Hoàng Kim D1, sinh năm 1972; trú tại: Số F đường L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Ông Ngô Đ, sinh năm 1949; trú tại: Số C đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- Ông Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1960; trú tại: Số D đường Q, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn C2; sinh năm 1967; trú tại: Số A đường T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Thái S2, sinh năm 1980; trú tại: Số C đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
Người có quyền lợi liên quan: Chị Bùi Thị Kim T3, sinh năm 1989; trú tại: Hẻm A đường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ ngày 05/6/2024, Phan Thế P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH Mode không gắn biển số đi trên đường Q, Phường B, thành phố B; khi đến trước cổng nhà hàng Đ1, số D đường Q thì P nhìn thấy 01 cây hoa mai có chiều cao 190cm, tán cây rộng 130cm, chu vi gốc 20cm và 01 cây hoa mai có chiều cao 208cm, tán cây rộng 140cm, chu vi gốc là 20cm. Quan sát thấy không có người trông coi nên P nảy sinh ý định trộm cắp, mục đích mang về trồng làm cảnh. Thực hiện ý định, P đi đến dùng tay nhổ 02 cây hoa mai và lấy 03 chiếc ghế xếp bằng inox đưa lên xe mô tô mang về cất giấu tại bãi đất trống, bên cạnh phòng trọ của P, tại số A đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Theo Kết luận định giá ngày 11/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 02 cây hoa mai do P trộm cắp của anh K là 4.000.000 đồng; giá trị 03 chiếc ghế xếp là 152.000 đồng; tổng cộng là 4.152.000 đồng. Quá trình điều tra Phan Thế P còn khai nhận, trong khoảng thời gian từ tháng 03 đến tháng 6 năm 2024, P đã nhiều lần trộm cắp cây hoa mai của người dân trên địa bàn thành phố B, cụ thể như sau:
- Lần thứ 1: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 15/3/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số đi đến nhà ông Hoàng Đức P1, tại số D đường B, phường B, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai có chiều cao 150cm, tán rộng 80cm, chu vi gốc là 44cm. Theo Kết luận định giá ngày 09/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị cây hoa mai của ông P1 là 1.500.000 đồng.
- Lần thứ 2: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 24/3/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số đi đến nhà ông Trần Bình H1, tại số H đường P, Phường A, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai có chiều cao 170cm, tán rộng 90cm, chu vi gốc 23cm. Theo Kết luận định giá ngày 09/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị cây hoa mai của ông H1 là 704.000 đồng. Trong đó giá trị cây hoa mai là 667.000 đồng; giá trị 01 chậu nhựa là 37.000 đồng.
- Lần thứ 3: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 08/04/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số đi đến nhà anh Nguyễn Đức Thanh T, tại số A đường T, phường L, thành phố B, trộm cắp 01 cây hoa mai có chiều cao 170cm, tán rộng 120cm, chu vi gốc là 22cm. Theo Kết luận định giá ngày 09/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị cây hoa mai của anh T là 1.467.000 đồng.
- Lần thứ 4: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 12/4/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số đi đến nhà ông Trần Bá T1, tại số A đường N, phường L, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 20cm, tán rộng 110cm, cao 140cm; 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 20cm, tán rộng 100cm, cao 140cm. Theo Kết luận định giá ngày 09/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 02 cây hoa mai ông T1 là 1.567.000 đồng.
- Lần thứ 5: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 22/4/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số đi đến nhà bà Phạm Thị L, tại số E đường Đ, Phường B, thành phố B trộm cắp 03 cây hoa mai. Theo Kết luận định giá ngày 11/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 03 cây hoa mai của bà L là 1.800.000 đồng.
- Lần thứ 6: Sau khi mang cây mai trộm cắp của bà L về cất giấu, P tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đi đến nhà chị Nguyễn Thị S, tại số E đường Đ, Phường B, thành phố B (đối diện nhà bà L) trộm cắp 01 cây hoa mai. Theo Kết luận định giá ngày 11/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 01 cây hoa mai của chị S là 1.924.000 đồng. Trong đó giá trị 01 cây hoa mai là 1.800.000 đồng; giá trị 01 chậu xi măng là 124.000 đồng.
- Lần thứ 7: Sau khi trộm cắp cây hoa mai của chị S mang về cất giấu, P tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đi đến nhà chị Vũ Thị Hồng L1, tại số E đường Đ, Phường B, thành phố B (cạnh nhà chị S), trộm cắp 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 25cm, tán rộng 130cm, cao 178cm. Theo Kết luận định giá ngày 11/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 01 cây hoa mai của chị L1 là 1.533.000 đồng.
- Lần thứ 8: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 27/04/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số đi đến nhà ông Trịnh Khắc T2, tại số B đường Y, phường L, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai, có chiều cao 100cm, tán cây rộng 160cm, chu vi gốc là 28cm. Theo Kết luận định giá ngày 09/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 01 cây hoa mai của ông T2 là 1.900.000 đồng.
- Lần thứ 9: Vào khoảng 23 giờ một ngày giữa tháng 4/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số, đi đến nhà ông Nguyễn Văn C1, tại số A đường Đ, phường L, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai, có chu vi gốc là 15cm, tán rộng 80cm, cao 105cm. Theo Kết luận định giá ngày 11/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 01 cây hoa mai của ông C1 là 800.000 đồng.
- Lần thứ 10: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 05/5/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số, đi đến nhà anh Hoàng L2, tại số F đường L, Phường A, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 07cm, tán rộng 50cm, cao 60cm và 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 12cm, tán rộng 90cm, cao 90cm. Theo Kết luận định giá ngày 11/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 02 cây hoa mai của anh L2 là 900.000 đồng; giá trị 02 chậu hình tròn làm bằng xi măng là 108.000 đồng, tổng cộng là 1.008.000 đồng.
- Lần thứ 11: Sau khi trộm cắp cây hoa mai của anh Hoàng L2 mang về cất giấu, P tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đi đến nhà chị Hoàng Kim D1, tại số F đường L, Phường A, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai, có chu vi gốc là 23cm, tán rộng 130cm, cao 150cm. Theo Kết luận định giá ngày 11/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 01 cây hoa mai của chị D1 là 1.500.000 đồng.
- Lần thứ 12: Vào khoảng 01 giờ 30 phút sáng ngày 23/5/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số đi đến nhà ông Ngô Đ, tại số C đường T, phường L, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 20cm, tán rộng 140cm, cao 130cm; 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 17cm, tán rộng 100cm, cao 140cm và 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 16cm, tán rộng 120cm, cao 150cm. Theo Kết luận định giá ngày 11/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 03 cây hoa mai của ông Đ là 3.800.000 đồng.
- Lần thứ 13: Vào khoảng 01 giờ sáng một ngày trong tháng 5/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số đi đến nhà ông Nguyễn Thanh S1, tại số D đường Q, Phường B, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 25cm, tán rộng 120cm, cao 170cm. Theo Kết luận định giá ngày 11/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 01 cây hoa mai của ông S1 là 2.000.000 đồng.
- Lần thứ 14: Vào khoảng 01 giờ sáng một ngày trong tháng 5/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số đi đến nhà ông Nguyễn Văn C2, tại số A đường T, phường B, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai có chiều cao 110cm, tán cây rộng 80cm, chu vi gốc 11cm và 01 cây hoa mai có chiều cao 100cm, tán cây rộng 90cm, chu vi gốc 14cm. Theo Kết luận định giá ngày 09/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 02 cây hoa mai của ông C2 là 933.000 đồng.
- Lần thứ 15: Vào khoảng 01 giờ ngày 03/6/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode không biển số đi đến nhà anh Nguyễn Thái S2, tại số C đường P, phường L, thành phố B trộm cắp 01 cây hoa mai có chiều cao 160cm, tán cây rộng 140cm, chu vi gốc 50cm. Theo Kết luận định giá ngày 09/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận, giá trị 01 cây hoa mai củaanh T là 5.234.000 đồng.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại: 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 20cm, tán rộng 130cm, cao 190cm; 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 20cm, tán rộng 140cm, cao 208cm và 03 cái ghế xếp cho anh Nguyễn Đăng K. Trả lại 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 20cm, tán rộng 60cm, cao 110cm; 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 13cm, tán rộng 80cm, cao 110cm; 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 18cm, tán rộng 90cm, cao 150cm cho chị Phạm Thị L. Trả lại 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 20cm, tán rộng 120cm, cao 150cm cho chị Nguyễn Thị S. Trả lại 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 25cm, tán rộng 130cm, cao 178cm cho chị Vũ Thị Hồng L1. Trả lại 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 25cm, tán rộng 120cm, cao 170cm cho anh Nguyễn Thanh S1. Trả lại 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 20cm, tán rộng 140cm, cao 130cm; 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 17cm, tán rộng 100cm, cao 140cm; 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 16cm, tán rộng 120cm, cao 150cm cho ông Ngô Đàng . Trả lại 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 20cm, tán rộng 110cm, cao 140cm; 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 20cm, tán rộng 100cm, cao 140cm cho ông Trần Bá T1. Trả lại 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 15cm, tán rộng 80cm, cao 105cm cho ông Nguyễn Văn C1. Trả lại 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 07cm, tán rộng 50cm, cao 60cm; 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 12cm, tán rộng 90cm, cao 90cm và 01 chậu bằng nhựa cho ông Hoàng L2. Trả lại 01 cây hoa mai có chu vi gốc là 23cm, tán rộng 130cm, cao 150cm cho chị Hoàng Kim D1. Trả lại 01 cây hoa mai có chiều cao 100cm, tán cây rộng 160cm, chu vi gốc là 28cm cho ông Trịnh Khắc T2. Trả lại 01 cây hoa mai có chiều cao 160cm, tán cây rộng 140cm, chu vi gốc là 50cm cho anh Nguyễn Thái S2. Trả lại 01 cây hoa mai có chiều cao 170cm, tán cây rộng 90cm, chu vi gốc là 23cm và 01 chậu nhựa màu đỏ cho ông Trần Bình H1. Trả lại 01 cây hoa mai có chiều cao 170cm, tán cây rộng 120cm, chu vi gốc là 22cm cho anh Nguyễn Đức Thanh T. Trả lại 01 cây hoa mai có chiều cao 110cm, tán cây rộng 80cm, chu vi gốc là 11cm và 01 cây hoa mai có chiều cao 100cm, tán cây rộng 90cm, chu vi gốc là 14cm cho anh Nguyễn Văn C2. Trả lại 01 cây hoa mai có chiều cao là 150cm, tán cây rộng 80cm, chu vi gốc là 44cm cho ông Hoàng Đức P1.
Riêng đối với xe mô tô nhãn hiệu SH Mode do bị cáo sử dụng phạm tội, quá trình điều tra xác định xe có biển số là: 93K1–135.83, do chị Bùi Thị Kim T3 (bạn của P) là chủ sở hữu. Do thời điểm trên chị T3 thường gửi xe tại phòng trọ của P, vào buổi tối P tháo biển số ra khỏi xe, sử dụng làm phương tiện phạm tội. Khi P sử dụng xe phạm tội chị T3 không biết, vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị T3. Hiện đang tạm giữ 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đen loại nửa đầu, có in dòng chữ A. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và người liên quan đều đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo P bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 127/CT-VKSBL ngày 16 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Phan Thế P về tội “trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thế P từ 06 đến 09 tháng tù. Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo P hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen loại nửa đầu, có in dòng chữ A.
Bị cáo Phan Thế P khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, thấy đúng với tội của mình xin được giảm nhẹ hình phạt. Người bị hại có mặt tại phiên tòa gồm các ông: Hoàng Đức P1, Trần Bình H1, Trần Bá T1 và ông Ngô Đ trình bày, các ông đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Thế P, các bị hại và người liên quan đều không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
[2] Về căn cứ xác định tội: Tại phiên toà, bị cáo Phan Thế P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người liên quan, nhân chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Lợi dụng sơ hở của người dân trên địa bàn thành phố B, trồng cây hoa mai trước cửa nhà mà không có biện pháp bảo vệ, vì vậy Phan Thế P đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp vào ban đêm, chiếm đoạt 24 cây hoa mai của nhiều người, với tổng số tiền là 31.822.000 đồng, trong đó có 04 lần chiếm đoạt tài sản trị giá trên 2.000.000 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo Phan Thế P đã phạm vào tội “trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo P về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội: Bị cáo Phan Thế P là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi cố ý. Bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác làm của riêng mình nên bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Thế P là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần bị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có nhiều bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hơn nữa toàn bộ tài sản do bị cáo trộm cắp hiện nay đã được thu hồi trả lại cho bị hại, nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần.
[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ sau đó trả lại 24 cây hoa mai, 03 chiếc ghế xếp, 03 chiếc chậu cảnh và 01 xe mô tô cho các bị hại và người liên quan là phù hợp nên không đề cập đến. Riêng đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm loại nửa đầu có in dòng chữ Adidas do bị cáo P sử dụng phạm tội, xét đây là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và người liên quan đều không yêu cầu bị cáo P bồi thường nên không đề cập đến.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo P hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố, bị cáo Phan Thế P phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Phan Thế P 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024. - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen loại nửa đầu có in dòng chữ A.
(Theo biên bản giao nhận ngày 20/8/2024, giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc). - Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Quảng |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thê P - Trộm cắp tài sản
