TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 129/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/8/2024 V/v “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Sơn
Ông Đậu Khắc Đình
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Phi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lường Ngọc Nuôi, sinh năm 1971 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố Khang Phú, P. Quảng Tiến, TP Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa;
- Bị đơn: Chị Vũ Thị Xuyên, sinh năm 1977 (Vắng mặt);
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu phố Khang Phú, P. Quảng Tiến, TP Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Australia (Úc)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 10/6/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Lường Ngọc Nuôi trình bày:
Về hôn nhân:
Anh và chị Vũ Thị Xuyên kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 20/11/1994, có đăng ký kết hôn và có tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Đến ngày 06/9/2017 đăng ký kết hôn lại tại UBND phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, vào sổ số 110/2017 (lý do đăng ký lại: do thời điểm năm 1994, anh thường xuyên đi biển vắng nhà nên chỉ có chị Xuyên đi đăng ký kết hôn). Sau khi cưới vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh tại KP Khang Phú, phường Quảng Tiến, TP Sầm Sơn (trước đây là xã Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn) đến năm 1999 thì vợ chồng chuyển ra ở riêng.
Quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do kinh tế khó khăn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Do mâu thuẫn vợ chồng nên tháng 01/2018 chị Xuyên đi xuất khẩu lao động tại Úc, từ khi đi đến nay chị Xuyên chưa về thăm gia đình lần nào. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, cắt đứt mọi liên lạc, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho anh được ly hôn chị Vũ Thị Xuyên.
Về con chung:
Vợ chồng có 2 con chung là cháu Lường Thảo Vân sinh ngày 02/12/2001 và Lường Tuệ Nhi sinh ngày 19/5/2007. Hiện cháu Vân đã thành niên và tự lập, cháu Nhi đang ở với anh, ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhi, anh không yêu cầu chị Xuyên phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung:
Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về địa chỉ nơi ở và làm việc của chị Xuyên tại ÚC:
Từ ngày chị Xuyên đi Úc đến nay vợ chồng cắt đứt mọi liên lạc, do vậy anh không biết địa chỉ cụ thể nơi ở và làm việc của chị Xuyên tại Úc, nhưng chị Xuyên vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Vũ Bá Muộn và bà Nguyễn Thị Điển. Địa chỉ: số 01, ngõ 5 Yết Kiêu, khu phố Toàn Thắng, phường Quảng Tiến, TP Sầm Sơn. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án xác minh thông tin chị Xuyên qua người thân là bố, mẹ chị Xuyên.
Cháu Lường Tuệ Nhi, sinh ngày 19/5/2007 trình bày: Cháu là con của bố Lường Ngọc Nuôi và mẹ Vũ Thị Xuyên. Hiện nay bố mẹ cháu đang làm tục tục ly hôn tại Tòa án. Nguyện vọng của cháu là muốn bố mẹ về ở với nhau để nuôi dạy chị em cháu, nếu bố mẹ nhất quyết ly hôn thì nguyện vọng của cháu muốn được ở với bố, vì từ ngày mẹ cháu đi Úc đến nay, bố cháu và ông bà nội chăm sóc nuôi dưỡng cháu. Cháu mong Tòa án chấp nhận nguyện vọng của cháu.
* Bà Nguyễn Thị Điển (mẹ chị Vũ Thị Xuyên) trình bày:
- Bà là mẹ đẻ của chị Vũ Thị Xuyên, anh Lường Ngọc Nuôi chồng chị Xuyên. Anh và chị Vũ Thị Xuyên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và có tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Đến ngày 06/9/2017 đăng ký kết hôn lại tại UBND phường Quảng Tiến.
Sau khi kết hôn, anh Nuôi và chị Xuyên sinh sống cùng gia đình chồng, sau đó ra ở riêng. Anh Nuôi, chị Xuyên phát sinh mâu thuẫn như thế nào bà không biết. Đến tháng 01/2018, chị Xuyên đi xuất khẩu lao động tại Úc. Từ khi đi đến nay chưa về thăm gia đình lần nào.
- Vợ chồng anh, chị có 02 con chung là cháu Lường Thảo Vân sinh ngày 02/12/2001 và Lường Tuệ Nhi sinh ngày 19/5/2007. Hiện nay, cả 02 cháu đang ở với anh Nuôi. Nếu anh, chị ly hôn, bà đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Anh Nuôi và chị Xuyên có tài sản, công nợ chung hay không bà không biết.
Chị Xuyên đi nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình bà, bà chỉ biết chị Xuyên hiện nay đang ở Úc, địa chỉ cụ thể thì không biết. Nay anh Nuôi yêu cầu ly hôn với chị Xuyên, bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà cam kết sẽ nhận các Văn bản tố tụng của Tòa án và sẽ thông báo lại ngay cho chị Xuyên.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thanh Hóa tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lường Ngọc Nuôi, xử cho anh Nuôi được ly hôn chị Xuyên; giao cháu Lường Tuệ Nhi sinh ngày 19/5/2007 cho anh Nuôi trực tiếp nuôi dưỡng, chị Xuyên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh Nuôi phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Anh Lường Ngọc Nuôi là nguyên đơn đăng ký nhân khẩu thường trú tại khu phố Khang Phú, phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Bị đơn là chị Vũ Thị Xuyên trước khi xuất cảnh trú tại khu phố Khang Phú, phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nhưng hiện nay đang sinh sống tại Úc. Trong vụ án này bị đơn cư trú ở nước ngoài, tuy nhiên có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Anh Nuôi chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị Xuyên ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của chị Xuyên tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu nhưng bà Điển là mẹ đẻ của chị Xuyên trình bày không biết địa chỉ của chị Xuyên ở Úc. Tuy chị Xuyên thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không cung cấp địa chỉ của chị hiện nay ở nước ngoài. Gia đình chị Xuyên vẫn thường xuyên liên lạc với chị và thông báo cho chị việc tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh Nuôi và chị Xuyên. Tòa án cũng đã phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành giao các văn bản tố tụng cho thân nhân chị Xuyên và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Lường Ngọc Nuôi vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là chị Vũ Thị Xuyên mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân:
Anh Lường Ngọc Nuôi và chị Vũ Thị Xuyên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Theo trình bày của anh Nuôi, quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do kinh tế khó khăn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Do mâu thuẫn vợ chồng nên tháng 01/2018 chị Xuyên đi xuất khẩu lao động tại Úc. Theo trình bày của anh Nuôi và thừa nhận của bà Điển (mẹ chị Xuyên) thì từ khi đi Úc năm 2018 đến nay chị Xuyên chưa về thăm gia đình lần nào. Vợ chồng sống ly thân từ đó, cắt đứt mọi liên lạc, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho anh Nuôi được ly hôn chị Xuyên là phù hợp.
[2.2]. Về con:
Vợ chồng có 2 con chung là cháu Lường Thảo Vân sinh ngày 02/12/2001 và Lường Tuệ Nhi sinh ngày 19/5/2007. Hiện cháu Vân đã thành niên và tự lập, cháu Nhi đang ở với anh, ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhi, anh không yêu cầu chị Xuyên phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét chị Xuyên đang lao động và sinh sống tại Úc không thể trực tiếp gần gũi và nuôi dưỡng các con, anh Nuôi vẫn đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng và điều kiện học tập của cháu Nhi. Cháu Lường Tuệ Nhi nguyện vọng cũng muốn ở với bố nếu bố, mẹ ly hôn. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu, cần giao cháu Lường Tuệ Nhi cho anh Lường Ngọc Nuôi trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh Nuôi tự nguyện không yêu cầu chị Xuyên cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của anh Nuôi nên chấp nhận. Khi chị Xuyên về nước, chị có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi nuôi con nếu có khả năng và nguyện vọng.
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung:
Anh Nuôi không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Sau này nếu chị Xuyên yêu cầu thì có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3].Về án phí:
Anh Nuôi là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh đã nộp.
[4]. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lường Ngọc Nuôi.
- Về hôn nhân: Cho anh Lường Ngọc Nuôi được ly hôn chị Vũ Thị Xuyên.
- Về con: Giao cháu Lường Tuệ Nhi sinh ngày 19/5/2007 là con chung của anh Lường Ngọc Nuôi và chị Vũ Thị Xuyên cho anh Nuôi trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Xuyên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị Xuyên có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí:
Anh Lường Ngọc Nuôi phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo Biên lai thu số 0000414 ngày 08/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
3. Quyền kháng cáo:
Anh Lường Ngọc Nuôi có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Chị Vũ Thị Xuyên có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt và niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Thị Dung |
Bản án số 129/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 129/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lường Ngọc N yêu cầu ly hôn chị Vũ Thị X
